Thứ Ba, 1 tháng 5, 2012

Tiếng cười Bác Ba Phi Tháng 328

lophocvuive.com
Tiếng cười Bác Ba Phi
Bác Ba Phi là một nhân vật trong văn học dân gian. Ông là nhân vật chính trong những câu chuyện kể về cuộc sống sinh hoạt thường ngày nhưng được cường điệu quá đáng (như rắn tát cá, chọi đá làm máy bay rơi, leo cây ớt té gãy chân…) và được trình bày một cách tự nhiên khiến người nghe hoàn toàn bất ngờ và bật cười. Ông là nhân vật cận đại nhất trong lịch sử kho tàng truyện trạng (nói dóc) của văn học Việt Nam.
Bác Ba Phi thuộc lớp hậu duệ của những tiền nhân đi khai mở đất rừng U Minh. Cả quãng đời, mà đặc biệt là thời tuổi trẻ của bác Ba Phi, là quá trình khai phá đất rừng U Minh nguyên sinh, vốn rất hào phóng mà cũng lắm khắc nghiệt. Với tinh thần khai phá, tính lạc quan yêu đời, thế giới quan của ông hiện ra thật sinh động và đáng yêu.
Những câu chuyện kể của ông, truyện nào cũng mang lại cho người nghe trước hết là tiếng cười sảng khoái, mượt mà âm sắc trào lộng, rất đặc hiệu Ba Phi, đồng thời nó còn ẩn chứa tính hào hùng của lớp người đi mở đất, tính cách đặc trưng Nam Bộ, lòng yêu thương thiên nhiên và con người.
Link Download:

Tập truyện ngắn Sơn Nam Tháng 328

lophocvuive.com
Tập truyện ngắn Sơn Nam
“Suốt cuộc đời đi rất nhiều nhưng ông chỉ biết một phương tiện đi lại duy nhất là đi bộ. Có lẽ bàn chân luôn tiếp đất ấy làm cho cách nhìn, cách nghĩ của ông luôn sát thực với đời sống. Trong hàng ngàn trang viết, ông chưa bao giờ lập thuyết, lập ngôn nhưng cách sống, cách viết của ông đã tạc ra một dấu ấn đặc biệt – phong cách Sơn Nam không thể nào nhầm lẫn. Ông làm rất nhiều công việc, nghiên cứu, viết lách, cố vấn phim ảnh…, thậm chí là hướng dẫn viên du lịch nhưng tên tuổi của ông chưa bao giờ gắn với một chức danh nào. Ông là một trong rất ít người cầm bút chỉ sống bằng lao động của mình mà không lệ thuộc vào một cơ chế thu nhập nào khác.”
“Giá trị tác phẩm của ông không chỉ là lối đi riêng về đề tài Nam bộ, là phong cách, ngôn ngữ mà còn là kết tinh của chất liệu thực hết sức chi li dù là nghiên cứu văn bản, tư liệu lưu trữ hay đúc kết từ đời sống. Sách của ông không pha trộn, thêm thắt, suy diễn chủ quan mà chắt lọc cho người đời sự thật của quá khứ mà ông khổ công tìm kiếm.
Viết về thiên địa hội, ông đối chiếu từ lịch sử hỏa thiêu Thiếu Lâm Tự ở Phúc Kiến đến các tổ chức thiên địa hội ở Mã Lai, Nam bộ. Sưu tập từng nghi lễ, lời thề, quy ước của từng tổ chức. Viết về phong trào Minh Tân, ông trích dẫn gần như đầy đủ các bài viết quan trọng của phong trào, từ lời rao quảng cáo đến những cuộc tranh luận trên báo Nông Cổ Mín Đàm và Lục Tỉnh Tân Văn; độc đáo hơn nữa là cả những báo cáo mật của mật thám và chính quyền thực dân về phong trào này. Viết về lịch sử khẩn hoang ông có cả giá lúa, giá thuế, diện tích đất từng làng, từng xã…
Có thể nói không phóng đại, sách của ông chính là nguồn tư liệu, là cuốn sách cái cho hầu hết các công trình nghiên cứu văn hóa Nam bộ hiện nay.
Cả một đời cần mẫn, con ong rừng U Minh đã bay về cõi nhưng những giá trị chắt lọc, những dấu ấn lịch sử khẩn hoang và chuyển mình của Nam bộ thì còn mãi với thời gian…”
Link Download:

Các Trò Chơi Dân Gian Việt Nam

1 Chơi đu

Trong các ngày hội, các làng thôn thường trồng một vài cây đu ở giữa thửa ruộng gần đình để trai gái lên đu với nhau. Cây đu được trồng bởi bốn, sáu hay tám cây tre dài vững chắc để chịu đựng được sức nặng của hai người cùng với lực đẩy quán tính. Hai cây tre làm cần đu nhỏ vừa tay cầm.
Lên đu có thể là một hay hai người. Càng nhún mạnh, đu càng lên cao, cần đu đưa lên vun vút, bên nọ sang bên kia. Cần đu lên ngang với ngọn đu là hay nhất, nhiều khi đu bay ngang ngọn đu một vòng. Nhiều nơi treo giải thưởng ở ngang ngọn đu để người đu giật giải. Nhún đu cũng là một sinh hoạt giao đãi tình cảm của trai gái.

2 Kéo co

Tục kéo co ở mỗi nơi có những lối chơi khác nhau, nhưng bao giờ số người chơi cũng chia làm hai phe, mỗi phe cùng dùng sức mạnh để kéo cho được bên kia ngã về phía mình. Có khi cả hai bên đều là nam, có khi bên nam, bên nữ. Trong trường hợp bên nam bên nữ, dân làng thường chọn những trai gái chưa vợ chưa chồng.
Một cột trụ để ở giữa sân chơi, có dây thừng buộc dài hay dây song, dây tre hoặc cây tre, thường dài khoảng 20m căng đều ra hai phía, hai bên xúm nhau nắm lấy dây thừng để kéo. Một vị chức sắc hay bô lão cầm trịch ra hiệu lệnh. Hai bên ra sức kéo, sao cho cột trụ kéo về bên mình là thắng. Bên ngoài dân làng cổ vũ hai bên bằng tiếng "dô ta", "cố lên".
Có nơi người ta lấy tay người, sức người trực tiếp kéo co. Hai người đứng đầu hai bên nắm lấy tay nhau, còn các người sau ôm bụng người trước mà kéo. Ðang giữa cuộc, một người bên nào bị đứt dây là thua bên kia. Kéo co cũng kéo ba keo, bên nào thắng liền ba keo là bên ấy được.


3 Ðánh roi múa mộc

Roi bằng tre vót nhẵn và dẻo, đầu bịt vải đỏ, còn mộc đan bằng tre sơn đỏ. Các đấu thủ đấu tay đôi với nhau: vừa dùng roi để đánh, dùng mộc để đỡ, ai đánh trúng địch thủ vào chỗ hiểm và đánh trúng nhiều thì thắng, thường đánh trúng vào vai và sườn mới được nhiều điểm.
Các hội lễ ở miền Bắc thường được tổ chức thi đấu vào những ngày đầu tháng giêng.


4 Ném cầu


Xã Phú Sơn, Hà Tĩnh cử hành hội mùa xuân tại chùa xã ngày 14 và ngày rằm tháng giêng. Khi trong chùa đang lễ Phật, ngoài sân trai chưa vợ, gái chưa chồng tụ họp nhau dự trò chơi ném cầu để "bói" hôn nhân. Hai quả cầu dùng để ném vào ***g tre là hai quả chanh ngoài có lớp vỏ bện bằng mây bọc quanh: sơn màu xanh gọi là âm cầu và sơn màu đỏ trắng gọi là dương cầu. Trai và gái chia làm hai bên, mỗi bên có người cầm đầu. Hai bên hẹn ước với nhau rằng: "Trong hai nhóm chúng ta, hễ ai đã kết hôn mà ném được quả cầu vào trong ***g thì chỉ được thưởng; còn cặp nào chưa kết hôn mà ném trúng thì không những được thưởng mà còn hẹn sẽ cưới nhau. Nếu ai sai lời sẽ có Phật trời chứng giám". Giao hẹn xong, mấy cặp bắt đầu trò chơi. Trước khi ném cầu, trai gai lần lượt hát:
Cầu này là cầu thiên duyên
Ðôi ta mà trúng, kết nguyền cùng nhau
Trò vui kéo dài từ sáng đến chiều. Tuy là trò chơi nhưng mỗi lần một cặp trai gái có tình ý mà cùng ném trúng đều hứa hôn với nhau

5 Tập tầm vông

Bài đồng dao này phổ biến khắp Bắc, Trung, Nam nhại theo âm trống tầm vông / tâm vinh (gọi theo Nghệ An) tức trống cơm:
Tập tầm vông
Chị có chồng
Em ở vá
Chị ăn cá,
Em mút xương.
........................
Chị ăn kẹo,
Em ăn cốm
Chị ở Lò Gốm,
Em ở Bến Thành.
Chị trồng hành,
Em trồng hẹ.
Chị nuôi mẹ
Em nuôi cha

Cách chơi hiện nay của trò này là hai nguời chơi ngồi đối mặt nhau, vừa hát vừa theo nhịp đập lòng bàn tay vào nhau: hoặc đập thẳng, hoặc đập chéo, hoặc một cao một hạ thấp, hoặc kết hợp nhiều cách khác nhau. Nói chung, cách chơi rất giống trò Thìa la thìa lảy đây.



6 Nu na nu nống

Nu na nu nống
Cái cóng nằm trong
Cái ong nằm ngoài
Củ khoai chấm mật
Bụt ngồi bụt khóc
Con cóc nhảy ra
Ông già ú ụ
Bà mụ thổi xôi
Nhà tôi nấu chè
Tè he chân rụt

Ðám trẻ ngồi thành hàng ngang, duỗi hai chân ra trước. Một đứa ngồi đối diện, lấy tay đập vào từng bàn chân theo nhịp từng từ một của bài hát trên. Dứt bài, từ "rụt" đúng vào chân em nào thì phải rụt nhanh. Nếu bị tay của cái đập vào chân thì em đó thua cuộc: ra làm cái ván chơi kế tiếp, hoặc chịu hình phạt (nhảy lò cò một vòng, trồng chuối...) hay phải đứng ra làm cái cho một trò chơi khác (bịt mắt bắt dê, ú tìm, cá sấu lên bờ...)

7 Tùm nụ, tùm nịu


Tùm nụ, tùm nịu
Tay tí, tay tiên
Đồng tiền, chiếc đũa
Hột lúa ba bông
Ăn trộm, ăn cắp trứng gà
Bù xa, bù xít

Con rắn, con rít trên trời
Ai mời mày xuống?
Bỏ ruộng ai coi?
Bỏ voi ai giữ?
Bỏ chữ ai đọc
.................

Ðánh trống nhà rông
Tay nào có?
Tay nào không?
Hổng ông thì bà
Trái mít rụng
...................

Căn cứ vào hai câu "Tay nào có? Tay nào không?", đây là một trò đố: nắm một vật vào đó trong một tay và chìa hai nắm tay. Mở tay ra: đúng sai, có không....biết liền

8 Thả đỉa ba ba

Trò chơi thể hiện việc qua sông, qua bưng, ruộng...ngập nước. Ở dưới nước có đỉa. Cả nhóm làm sao xuống nước mà đỉa không bắt chước. Trước hết vẽ hai đường song song cách nhau độ 2m (hay qui định khoảng trống nào đó) giả định là sông nước. Một em ra giữa vòng vừa hát vừa lấy tay ra đập nhịp vào vai các bạn:
Thả đỉa / ba ba
Chớ bắt / đàn bà
Tha tội / đàn ông
Cơm trắng / gạo trắng
Gạo thuyền như nước
Ðổ mắm / đổ muối
Ðổ chuối / hạt tiêu
Ðổ niêu / nước chè
Ðổ phải nhà nào
Nhà ấy.... chịu

Từ "chịu" trúng em nào thì em ấy xuống sông làm "đỉa". Bọn trẻ đứa chạy đầu này, đứa băng qua sông góc nọ. "Ðỉa" rượt để bắt. Bọn trẻ lại hát bài hát ghẹo.
Sang sông / về sông / trồng cây / ăn quả / nhả hạt. "Ðỉa" rượt bên này thì bên kia xuống sông. "Ðỉa" quay lại bên kia thì lũ bên nọ lại réo lên: "ăn quả / nhả hạt" rồi ào xuống. Chẳng may ai bị "đỉa" vớ phải thì trở thành "đỉa".

9 Rồng rắn lên mây

Một người đứng ra làm thầy thuốc, những người còn lại sắp hàng một, tay người sau nắm vạt áo người trước hoặc đặt trên vai của người phía trước. Sau đó tất cả bắt đầu đi lượn qua lượn lại như con rắn, vừa đi vừa hát:
Rồng rắn lên mây
Có cây lúc lắc
Hỏi thăm thầy thuốc
Có nhà hay không?
Người đóng vai thầy thuốc trả lời:
- Thấy thuốc đi chơi ! (hay đi chợ, đi câu cá , đi vắng nhà... tùy ý mà chế ra). Đoàn người lại đi và hát tiếp cho đến khi thầy thuốc trả lời:
- Có !
Và bắt đầu đối thoại như sau : Thầy thuốc hỏi:
- Rồng rắn đi đâu?
Người đứng làm đầu của rồng rắn trả lời:
- Rồng rắn đi lấy thuốc để chữa bệnh cho con.
- Con lên mấy ?
- Con lên một
- Thuốc chẳng hay
- Con lên hai.
- Thuốc chẳng hay
Cứ thế cho đến khi:
- Con lên mười.
- Thuốc hay vậy.
Kế đó, thì thầy thuốc đòi hỏi:
+ Xin khúc đầu.
- Những xương cùng xẩu.
+ Xin khúc giữa.
- Những máu cùng me.
+ Xin khúc đuôi.
- Tha hồ mà đuổi.
Lúc đó thầy thuốc phải tìm cách làm sao mà bắt cho được người cuối cùng trong hàng.
Ngược lại thì người đứng đầu phải dang tay chạy, cố ngăn cản không cho người thầy thuốc bắt được cái đuôi của mình, trong lúc đó cái đuôi phải chạy và tìm cách né tránh thầy thuốc. Nếu thầy thuốc bắt được người cuối cùng thì người đó phải ra thay làm thầy thuốc.
Nếu đang chơi dằng co giữa chừng, mà rồng rắn bị đứt ngang thì tạm ngừng để nối lại và tiếp tục trò chơi.

10 Thìa la thìa lảy

Là trò chơi luyện tập sự nhịp nhàng. Giống như trò tập tầm vông, song bài ca lại là bài vè Con gái hư - chê tật xấu của các cô gái lười:
Thìa la thìa lảy,
Con gái bảy "tài"
Ngồi lê là một,
Dựa cột là hai.
Thày lay là ba
Ăn quả là bốn
Trốn việc là năm
Hay nằm là sáu
Láu táu là bảy

LỜI NGƯỜI XA QUÊ


I- Cuộc đời dằng dặc nẻo đường xa
Liệu ai chối bỏ nỗi nhớ nhà ?
Gốc gác tổ tiên quê hương ấy
Cha truyền con nối, ta nhắc ta !
II- Nỗi niềm thời cuộc cảnh bốn phương
Tụ hội mưu sinh chốn phố phường ,
Gia đình quần tụ - gia đình lớn
Nghĩa tình trọn vẹn Hội Đồng Hương .
III- Quê nhà Nam Định truyền thống xưa
Kiên trung , tài trí những đời Vua
Ham học, Nhân ái và Hiếu thuận
Cùng răn con cháu phải kế thừa ./.

                                                   suu tam

Hải Hậu - Rực sáng 1 vùng quê !

đền Liệt Sỹ







Nhà Văn Hóa Huyện





Ủy Ban Nhân Dân


























































































 

Bảo Tàng





bờ hồ - trung tâm










cầu Ngói Chùa Lương ( ngôi chùa cổ nhất Hải Hậu-500 năm rùi)


Talking 3 Cô gái Nam Định 'bí ẩn' trên tờ tiền 2.000 đồng

Đã 23 năm trôi qua kể từ ngày tờ tiền này được phát hành, hình ảnh 3 nữ công nhân đang làm việc in trên tờ tiền vẫn là một ẩn số.
Tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng là tờ tiền hiếm hoi có mặt sau được thể hiện bằng bối cảnh Nhà máy Sợi Nam Định cùng 3 nữ công nhân đang làm việc.
Mở cuộc truy tìm


Năm 1988, khi phát hành tờ tiền 2.000 đồng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quyết định lấy bối cảnh khu sản xuất cùng 3 nữ công nhân của Nhà máy Sợi Nam Định để in lên mặt sau của tờ tiền. Nhiều người chắc mẩm, đây phải là những công dân điển hình với thành tích lao động rất đặc biệt có nhiều đóng góp mới vinh dự được in hình lên tờ tiền. Nhưng họ là ai?
Bây giờ Nhà máy Sợi Nam Định đã được đổi tên thành Tổng Công ty Cổ phần Dệt may Nam Định. Trong đội ngũ nhân công sản xuất hiện tại của nhà máy, vẫn còn khá nhiều người thuộc thế hệ công nhân từ thập niên 70 của thế kỷ trước. Gặp họ, chúng tôi càng thêm hy vọng có manh mối về 3 người phụ nữ được in hình lên tờ tiền 2.000 đồng.
Khi chúng tôi chìa ra tờ tiền 2.000 đồng rồi hỏi về 3 nữ nhân công trong ảnh, nhiều công nhân già trong nhà máy cứ ớ người ra mà rằng: "Đúng, đúng... Đây là 3 nhân công của nhà máy chúng tôi. Đến nay công nhân trong nhà máy vẫn đang sử dụng mẫu quần áo bảo hộ lao động như họ đã mặc... Nhưng 3 phụ nữ này là công nhân nào nhỉ? Nhìn họ quen quá...". Vậy là những người công nhân già cứ chuyền tay nhau tờ tiền rồi thầm thì: "Là ai nhỉ?".
Riêng Phó Giám đốc Phân xưởng dệt Bùi Văn Đặng thì cứ mãi bần thần. Ông lật ngang, rồi lật ngửa tờ tiền và nói: "Tôi về nhà máy công tác và làm quản lý từ năm 1970. Bức ảnh được in trong tờ tiền chính là phân xưởng dệt C2. 3 công nhân trong ảnh chính xác là công nhân của chúng tôi. Tôi nhận được họ qua trang phục lao động - đặc thù của công nhân dây chuyền dệt... Nhưng sao tôi không rõ 3 phụ nữ này là ai nhỉ?". Dứt lời, ông Đặng kéo tôi đi: "Anh đi cùng tôi... Tôi sẽ cho anh thăm phân xưởng dệt C2 và sẽ hỏi cho anh về 3 công nhân được in trên tờ tiền".
Tới phân xưởng dệt C2, ông Đặng chỉ cho tôi từng chi tiết trong bức hình tại mặt sau tờ tiền 2.000 đồng đều trùng khớp với bối cảnh hiện tại của phân xưởng dệt. Tất cả đều không mấy thay đổi dù đã trải qua nhiều năm trời. Tại đây, ông Đặng gọi những người công nhân già lại rồi hỏi về 3 nữ nhân công trong tờ tiền. Một cuộc truy tìm 3 người phụ nữ bí ẩn nhanh chóng lan toả toàn khu sản xuất. Nhìn cảnh ấy, chúng tôi nghĩ mình đã may mắn, có lẽ chỉ một lúc nữa thôi, 3 người phụ nữ bí ẩn mà tôi muốn gặp sẽ xuất hiện.
Nhưng rồi nguyên cả buổi sáng trôi qua, 3 nữ công nhân bí ẩn kia vẫn mất hút. Đầu giờ chiều, ca làm việc mới bắt đầu. Chúng tôi lại tiếp tục kiếm tìm 3 người công nhân bí ẩn. Lần này ông Đặng còn lấy điện thoại liên hệ với hàng chục công nhân đã nghỉ hưu. Bao nhiêu cuộc điện thoại ông Đặng gọi đi là bấy nhiêu hi vọng chúng tôi ấp ủ. Nhưng tất cả chỉ nhận được những câu trả lời: "Tôi không rõ... Tôi cũng không nhớ...". Họa lắm mới có người an ủi: "Có khi họ là những công nhân vẫn đang làm việc trong nhà máy mà năm đó được chụp ảnh rồi vẽ hình lên tiền nhưng họ không biết".
Không tìm được 3 nữ công nhân này, gương mặt Phó Giám đốc Bùi Văn Đặng sụp xuống. Kéo tôi về phòng làm việc của mình, ông Đặng giãi bày: "Khoảng thời gian Nhà máy Sợi Nam Định được chụp hình đưa lên tờ tiền 2.000 đồng là cuối những năm 80. Lúc đó đất nước đang trong giai đoạn đổi mới, không khí lao động xây dựng xã hội chủ nghĩa được phát động trong toàn nhà máy. Khi ấy chúng tôi liên tục được các đoàn làm phim, nhà báo về thăm. Đoàn nào về cũng ghi hình, chụp ảnh... Đúng là ngày đó công nhân và nhà máy được chụp ảnh, vẽ hình nhiều quá nên chẳng ai để ý...".
Vậy là chúng tôi phải tạm chia tay mà vẫn chưa tìm được 3 người phụ nữ may mắn được vẽ hình lên tờ tiền 2.000 đồng.

Bản vẽ có bối cảnh 3 nữ công nhân cùng dây chuyền sản xuất tại nhà máy Sợi Nam Định vẫn đang được hoạ sỹ Quế lưu giữ.

Họa sỹ thiết kế cũng không biết
Chúng tôi rời Nam Định nhưng ý nghĩ tìm gặp 3 người phụ nữ được đưa hình lên tờ tiền 2.000 đồng vẫn chưa nguôi ngoai. Một trong những manh mối có thể tìm ra được 3 nhân vật bí ẩn ấy là họa sỹ thiết kế đồng tiền này. Theo tài liệu lưu giữ tại Ngân hàng Nhà nước, Họa sỹ Phạm Văn Quế là người trực tiếp thiết kế mặt sau của tờ tiền 2.000 đồng. Ngày đó, ông Quế đang ở tuổi ngoài 40 và công tác tại Tổ họa sỹ, Phòng Thiết kế mẫu (Cục Phát hành tiền tệ và Kho quỹ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam). Tổ họa sỹ của ông có 7 người.
Bây giờ, họa sỹ Phạm Văn Quế đã nghỉ hưu, nhưng ông vẫn còn minh mẫn lắm. Chúng tôi hỏi ông: "Bác thiết kế mặt sau tờ tiền 2.000 đồng có bối cảnh là 3 nữ công nhân Nhà máy Sợi Nam Định. Đây là 3 nhân vật có thật hay chỉ là 3 nhân vật được vẽ theo trí tưởng tượng?".
Hoạ sỹ Phạm Văn Quế, người đã thiết kế mặt sau của tờ tiền 2.000 đồng. Ảnh: Quốc Hưng
Họa sỹ Quế cho hay: "Tưởng tượng ra nhân vật làm sao được. Tôi phải có hình mẫu cụ thể mới thiết kế được tờ tiền. Đó là 3 nhân vật có thực, không phải tưởng tượng hay hư cấu gì cả. Đầu năm 1988, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ra quyết định sẽ phát hành tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng. Khi ấy tôi cùng 6 họa sỹ trong tổ được giao nhiệm vụ tìm và lựa chọn những bức ảnh để thiết kế mặt sau cho tờ tiền. Những bức ảnh được chọn lựa phải có tiêu chí phù hợp với bối cảnh đất nước lúc bấy giờ và phù hợp với mệnh giá tờ tiền chuẩn bị phát hành".
Với tiêu chí ấy, tất cả các họa sỹ trong tổ cứ thế đi tìm ảnh. 7 họa sỹ phải tìm 7 ảnh mẫu khác nhau để thiết kế lên tờ tiền. Mẫu thiết kế của họa sỹ nào xuất sắc và phù hợp với tiêu chí sẽ được lựa chọn làm mặt sau cho tờ tiền 2.000 đồng. Có rất nhiều bối cảnh của đất nước được tổ họa sỹ quan tâm. Có người chọn bối cảnh Nhà hát lớn Hà Nội, có người lại chọn Hồ Gươm với Tháp Rùa, thậm chí Nhà máy đồ hộp Hải Phòng cũng đã được một số họa sỹ để ý.
"Về phần mình, tôi sang kho ảnh của Thông tấn xã Việt Nam để lựa chọn. Tôi miệt mài tìm kiếm cả tuần trời, cuối cùng cũng tìm được 2 bức ảnh chụp về Nhà máy Sợi Nam Định. Một bức chụp về dây chuyền sản xuất sợi, bức ảnh còn lại là chụp về 3 nữ công nhân trẻ đang thao tác trên dây chuyền. Cầm trên tay 2 bức ảnh, tôi ưng ý ngay và linh cảm rất rõ, đây sẽ là bức hình được lựa chọn để in lên tờ tiền 2.000 đồng", ông Quế nhớ lại.
Theo Phó GĐ Bùi Văn Đặng, khu dây chuyền này chính là bối cảnh đã được hoạ sỹ Phạm Văn Quế thiết kế lên mặt sau tờ tiền 2.000 đồng.
"Vậy 3 nữ công nhân đó là ai và đang sống ở đâu?". Giật mình trước câu hỏi này, ông Quế tư lự: "Việc thiết kế tiền phải bảo mật cao độ. Khi làm thủ tục xin 2 bức ảnh từ Thông tấn xã Việt Nam, tôi chỉ khai báo một lý do đại khái cho hợp lệ chứ không thể đưa lý do chính xác. Việc xin tên tác giả của 2 bức ảnh cũng như các nhân vật trong ảnh tôi cũng chẳng kịp làm". Vậy là họa sỹ Phạm Văn Quế cũng không biết 3 người công nhân được in hình lên tờ tiền 2.000 đồng kia là ai. Tính chất bảo mật của công việc thiết kế tiền đã không cho ông làm việc đó.

Sau khi mang 2 bức ảnh về trình, hoạ sỹ Quế được chấp thuận dùng để thiết kế lên mặt sau của tờ tiền 2.000 đồng. Nhiệm vụ của ông là lồng ghép, vẽ lại 2 bức ảnh trên thành một. Bức hình mới được vẽ ra phải có các chi tiết hài hoà cân đối và không phức tạp. Ông Quế đã mất nhiều tháng trời ngồi vẽ rồi ghép 2 bức ảnh lại với nhau. Ông miệt mài vẽ đến độ thuộc lòng từng chi tiết trong 2 bức ảnh, từng nét mặt của 3 cô công nhân. Nhưng họ là ai, thì ông đành chịu! Ông chỉ biết họ là những người thợ dệt của Nhà máy Sợi Nam Định.
Đến nay, tờ tiền 2.000 đồng đã phát hành được 23 năm. Nhưng 3 nữ công nhân được vinh dự in hình lên đó vẫn là một bí ẩn.

Sưu tầm

Đặc Sản Nam Định

Bánh Gai Bà Thi
Trở về Thành Nam quê mình, qua hết huyện Mỹ Lộc, tới đầu thành phố là đã hiện ra trước mắt ta món quà thân thiết của Quê hương - Bánh gai Bà Thi.

Chắc hẳn trong số anh em bạn bè yêu mến món bánh này cũng đã rõ nguồn gốc xuất xứ của chiếc bánh cũng như tên gọi của loại bánh độc đáo này.

Nhiều người tự hỏi: tại sao lại có tên là bánh gai Bà Thi, Bánh gai Bà Thi và Bánh gai Hải Dương có phải là một, ở đâu có trước...và có lẽ hàng trăm câu hỏi khác cứ trở về trong mỗi chúng ta khi thưởng thức hương vị đượm đà của Bánh Gai Bà Thi.

Người Thành Nam quê mình trước đây biết đến Bánh gai Cầu Ốc xã Lộc Hạ, TP NĐ. Sự độc đáo của loại bánh gai này là nhân được làm bằng hột bàng và gói bằng lá chuối ngự. Bánh gai Cầu Ốc ngọt, bùi, thơm mùi lá gai, béo ngậy của hạt bàng.
Tên gọi Bánh Gai Bà Thi có từ cuối năm 1978 trở lại đây và loại bánh ngọt phổ biến tại Thành phố quê mình. Bà Thi là người Nam Định nhưng sống ở Sài Gòn, cho tới ngày đất nước giải phóng, bà trở lại Thành Nam mang theo công thức làm bánh gai từ Sài Gòn ra. Bà Thi không trực tiếp làm bánh gai mà truyền công thức cho anh Bình "xoăn" ở phố Hoàng Ngân - anh là người quen cũ của bà, rồi bà nhận bánh ở đây đi bán trên đường Trần Hưng Đạo. Thương hiệu Bánh Gai Bà Thi cũng có từ đó.
Như vậy là xuất xứ của Bánh Gai Bà Thi Nam Định không phải từ Hải Dương như ai đó vẫn từng nói.
Cái ngon, cái độc đáo của bánh gai Bà Thi quê mình không chỉ bởi giá cả mà chính là từ chất lượng. Lá gai phải được đặt mua từ tháng 3 tháng 4, Chọn lá gai không được sâu hỏng, rửa sạch, phơi khô, tước gân đi, nghiền nhỉ thành bột, cho vào túi vải, ninh 3-4h ( càng lâu càng tốt) mục đích là để làm mất đi chất chát và tạo độ nhừ cho lá gai. Nếp phải chọn nếp hương hoặc nếp tháng ba tháng, đãi sạch, nghiền nhỏ mịn, sờ mát tay, không gợn tay. Trộn bột lá gai nguyên chất với bột nếp hương và đường vàng để làm vỏ bánh. Đỗ xanh phải chọn hạt đều, không sâu mọt, đem ngâm vào nước ấm, đãi sạch vỏ rồi đem đồ chín. Hạt sen cũng chọn hạt nguyên, không bị sâu, đem nấu chín hoặc có thể lấy mứt sen làm nhân bánh. Cùi dừa nạo nhỏ, đem xào với đường kính trắng. Vừng trắng đãi vỏ sạch, rang thơm.
Các thứ đó trộn lẫn vào nhau, cho ít dầu ăn để làm nhân bánh. Đặc biệt lá chuối ngự gói bánh phải là lá chuối ngự khô, mua ở xã Nhân Hậu - Nhân Tiến - Vĩnh Trụ - Lý Nhân - Hà Nam. Lá chuối ngự thường mềm, dai, có chất lụa gói bánh mới đẹp. Nếu dùng lá chuối tây gói bánh thì thường bị gãy và có chất chát ngấm vào bánh, làm giảm chất lượng bánh. Sau khi đã gói bánh, dùng sợi đay và cói ( đã nhuộm đỏ) để buộc bánh. Cho bánh vào nồi hấp từ 2,5 - 3h, ủ bánh vào thùng giữ nhiệt để bánh đến với người ăn lúc ấm nóng, thơm ngon. Tuyệt đối không luộc bánh vì khi luộc bánh sẽ làm giảm chất dinh dưỡng có trong các tinh bột. Trọng lượng của bánh khi hấp chín thường từ 100-200 gam. Bánh chín mở ra vuông vắn, màu đen tuyền, thơm mùi lá gai và nếp hương nguyên chất.

Ngày nay, cùng với cơ chế thị trường các cửa hàng bán bánh nhiều hơn và người thưởng thức cũng khó nhận biết đâu là Bà Thi thật, đâu là giả. Tuy nhiên người viết hy vọng rằng với những dòng ngắn ngủi trên có thể phần nào giúp bạn thêm thú vị khi thưởng thức hoặc mua bánh quê hương đi làm quà biếu. Hy vọng một ngày nào đó về thành phố quê mình sẽ có một hiệu Bánh Gai Bà Thi chính hiệu và giữ được nét xưa.

Xin vịnh mấy câu thơ làm quà


Ai về Nam Định quê mình
Mua Cặp bánh nhỏ xinh xinh làm quà
Bánh gai chính hiệu quê Bà
Hương gai, hương nếp, đậm đà khó quên
 
Chuối ngự đồng chiêm
Ở ngoại thành Nam Định, và dọc bờ sông Châu Hà Nam, nhiều nơi nổi tiếng về trồng chuối ngự. Nhưng ngon nhất, vẫn là chuối làng chiêm trũng Đại Hoàng (Lý Nhân, Hà Nam). Quả chuối mềm nuột, mầu vàng nhạt, cắn một miếng, lộ ra ruột vàng sậm, thơm nức.

Cây chuối ngự, theo các cụ kể ít ra đã có từ thời nhà Trần. Từ phủ Thiên Trường đến ngoại thành Nam Định, các làng xóm ở Hà Nam, nhiều vùng đất là quê hương, là thái ấp các vua quan nhà Trần. Những ông vua thương dân, đánh giặc giỏi, lại được dân quý trọng, trồng lên loại sản vật quý giá dâng vua: chuối ngự.

Trồng chuối cũng kỳ công, từ mùa xuân năm nay đến mùa xuân năm sau mới ra hoa kết trái. Khác với cây chuối ngự trâu, quả to, ăn nhạt, chuối ngự thóc (hay còn gọi là chuối ngự mít) là loại được chọn tiến vua. Qua mùa bão táp mưa sa, cây càng phải gìn giữ kỹ. Mỗi cây có một cột tre làm nơi nương tựa. Ngay đến chăm sóc, chuối ngự cũng cầu kỳ, "ăn" sạch các loại bùn ao, nước gạo, dầu lạc, chớ không ưa các loại phân uế tạp.

Chuối ngự đậu quả, không để chín cây mà phải giấm rất kỳ công. Lò giấm vách đất, chứa đựng mươi buồng, đủ nhiệt độ cho chuối chín mà không nẫu. Mùa chuối chín, hương thơm tỏa đầy ắp nhà. Quả chuối ngự xinh xinh, bụ bẫm, cuống thanh thanh. Các cụ ngày xưa ví như "búp tay cô gái" kéo sợi dệt vải quê đồng chiêm. Vỏ chuối vàng óng như lụa, bóc vỏ, ruột lộ ra liền. Quả chuối mềm nuột, mầu vàng nhạt, cắn một miếng, lộ ra ruột vàng sậm, thơm nức. Cái ngọt đậm đà đầu lưỡi.

Mùa chuối ngự, ở chợ Rồng, chợ Viềng, mầu vàng sáng rực chợ. Cái mầu vàng làm say lòng Nguyễn Tuân khi thăm chợ Rồng: "Tơ chín vàng, chuối chín vàng. Mầu hoa hòe nở rộ vào mỗi mùa nhập trường thi chữ Hán ngày xưa, cũng khó mà đọ được với vàng chuối, vàng tơ của chợ Rồng chói lọi. Cái màu vàng giãy nãy lên ấy, tưởng chỉ có được trong nghệ thuật và tranh mầu".

Tơ, lụa, chuối, theo Nguyễn Tuân, làm cả chợ rực sáng lên như nhuộm tắm trong một cái ráng trời óng lộng cuối mùa thu.

Làng Đại Hoàng, đất của chuối ngự, cũng chính là làng quê của nhà văn Nam Cao. Nghe kể, thời đi dạy học đi viết văn ở Hà thành, Nam Cao rất nhớ món chuối ngự làng mình. Ông đi chợ, gặp chuối ngự là mua về, để thơm nức mới thưởng thức, như nhớ về rặng tre, vườn chuối thân thương.

Bánh Nhãn Hải Hậu
Tên gọi bánh nhãn là do dân gian đặt, vì thấy nó tròn và màu bánh giống màu quả nhãn. Thứ nữa là do dân gian cũng muốn nâng giá trị của món quà quê này, vì chất lượng của bánh ngon và quý, nên gọi nó giống tên một loại quả quý đã có thời kỳ dùng để tiến vua là: quả nhãn. Bánh Nhãn có gốc ở làng Đông Cường - xã Quần Phương Hạ - Gần với khu phố Đông Biên, thị trấn Yên Định - (Hải Hậu). Bánh nhãn ra đời là sự kết tinh những sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao của Hải Hậu, nếp hương ngon, trứng gà tươi, đường phèn.

Bánh nhãn ngon hay không ngon phụ thuộc vào việc lựa chọn nguyên liệu và sự điêu luyện, cẩn thận của nghề người sản xuất. Làm bánh nhãn không thể làm ẩu, xay bột nếp phải mịn thì bánh mới đẹp, nếu xay bột to hoặc trộn với bột khác thì bánh sẽ không phồng mà còn nứt, cháym, khó lành. Khi nhào bột làm bánh phải nhào bằng trứng gà đánh nhuyễn, tuyệt đối không dùng nước lã để luyện bột. Nếu quá trình làm bánh pha chế thêm nước lã, bánh cho vào mỡ rán sẽ bị nổ và làm hỏng mẻ bánh. Vo bánh phải đều tay, mừoi cái như một thì bánh mới đẹp. Khi rán phải cho bánh ngập mỡ, mỡ nóng còn xờ tay vào được mới cho bánh vào rán, lửa phải để liu riu, đều lửa thì bánh mới chín đều, khô ruột bên trong và vàng vỏ bên ngoài. Khi bánh đã chín thấu, vớt bánh ra để khô, nguội rồi mới hoán đường. Dùng một ít nước lã hòa tan đường cho lên bếp đun đến lúc nào nước đường sánh lại ( thấy có sợi đường) thì cho bánh vào đảo đều, nhanh tay, bánh ngon hay không còn phụ thuộc vào các thao tác của người làm bánh có đúng hay không. Bánh đã hoán đường, để nguội, bảo quản nơi khô, kín, tránh gió và nắng soi.

Thật thú vị biết bao khi lâu ngày về quê hoặc Quý khách về tham quan nghỉ dưỡng tại biển Hải Thịnh hay tại Nam Định mua được gói bánh nhãn Hải Hậu làm quà. Mở gói bánh ra ăn rồi uống với nước trà hoặc cà phê đen thì cái thú không gì tả nổi. 
 
Bánh Cuốn Làng Kênh
Làng Kênh nằm ở phía Bắc thành phố ND, thuộc xã Lộc Vượng, ngoại thành Nam Định. Theo dân gian truyền lại, xưa đất Lộc Vượng là đất của Vua Trần, hàng năm vào tháng Tám vua thường tổ chức mở lễ hội, mở khoa thi...,cả xã có 4 thôn, vua phân mỗi làng - thôn có một nghề. Thôn Kênh được giao làm bánh cuốn, chế biến các loại bánh...phục vụ lễ hội. Các gia đình làm bánh cuốn truyền qua đời con cháu, duy trì đến ngày nay.
Thời gian đầu, bánh cuốn dùng để tiến vua. Về sau, vào thời gian nông nhàn, người dân làm nhiều bánh cuốn hơn, đưa vào nội thành bán cho dân.
Bánh cuốn làng Kênh nổi tiếng ngon, đã trở thành món quà đặc sản quý của người dân Thành Nam từ xưa tới nay. Hầu như các gia đình làm bánh cuốn hiện nay chủ yếu vẫn giữ được chất lượng cổ truyền của bánh.
Có một vài nét khác nhau trong quá trình làm bánh cuốn ở làng Kênh từ xưa tới nay như sau:
* Nguyên liệu làm bánh gồm: gạo Mộc Tuyền, nước mắm ngon, hành khô, mỡ nước, dầu thực vật...gạo ngâm và được xay từ chiều hôm trước. Khi xay gạo sao cho mịn, mát, không gợn bột. Xay xong để lắng, thay nước khác để tránh bột bị chua. Nếu xay bột bằng cối quay tay thủ công ngày xưa, bột sẽ mịn hơn khi xay bằng cối máy.
* Nước chấm pha chế bằng nước mắm ngon theo tỉ lệ 1 nước mắm - 1 nước lọc, cho thêm vào chút đường, bột ngọt rồi đun nóng. Lúc ăn cho thêm chanh, dấm và hành khô. Nước mắm là yếu tố hấp dẫn khẩu vị của người ăn, pha nước chấm do người giàu kinh nghiệm đảm nhiệm.
* Chuẩn bị hành khô, thơm giòn, mộc nhĩ xào chín để làm nhân bánh. Tấm bánh tráng xong mỏng tang, trắng trong không bị đứt, nát, cho lên bánh các lớp nhân mộc nhĩ xào mỡ vừa để ngăn cách các lớp bánh, vừa tạo độ thơm ngậy khi ăn bánh.
Kĩ thuật chính khi làm bánh cuốn làng Kênh là do người pha chế đúng liều lượng. Nếu pha bột loãng quá bánh sẽ đứt, nhưng nếu pha đặc quá bánh sẽ dày, ăn không ngon. Trước khi tráng bánh, cho một ít hàn the vào tạo độ dai của bánh, để bánh tráng được mỏng mà vẫn còn nguyên tấm bánh.
Khi ăn bánh Cuốn, lật dở từng tấm bánh còn ấm, chấm vào nước mắm đã pha chế, với chả quế làm tăng vị đậm đà của bánh " trước đây ăn bánh cuốn Làng Kênh với giò lụa Phương Bông". Bánh cuốn làng Kênh không bán ngay tại chỗ mà tráng từ ở nhà, mang ra chợ bán, nhưng vẫn giữ được độ ẩm vừa phải của bánh. Người làng Kênh không làm bánh nhân thịt nhưng vẫn hấp dẫn người ăn ở màu trắng trong và mềm thơm của bánh.

Ngày nay bánh cuốn làng Kênh xưa đã " lan" ra cả tỉnh Nam Định, về vùng quê nào cũng có thể thưởng thức bánh cuốn, song bánh cuốn ngon và nổi tiếng nhất Nam Định vẫn là Bánh cuốn làng Kênh.
 
Bánh đậu xanh Hanh Tụ
Bánh đậu xanh Hanh Tụ là món bánh gia truyền của gia đình bà Lê Thị Phúc ở số 249 - Lê Hồng Phong - TP Nam Định. Do bánh đạt chất lượng cao được người dân Thành Nam ưa chuộng, nên bánh đậu xanh Hanh Tụ trở thành đặc sản của Thành Nam. Bánh đậu xanh Hanh Tụ ngon là do người làm cẩn thận trong chọn nguyên liệu, không pha thêm tạp phẩm, để tạo hương vị tự nhiên của bánh. Mặt khác còn phụ thuộc vào kinh nghiệm của người làm bánh, mới có được bánh đậu xanh Hanh Tụ đúng chất lượng gia truyền.

Nguyên Liệu làm bánh đậu xanh gồm: đậu xanh, đường cát trắng, mỡ lợn ỷ và dầu bưởi thơm. Đỗ xanh phải là đỗ trồng ở các huyện: Ý Yên, Vụ Bản, là loại đỗ đầu mùa, hạt to mẩy...đường cũng phải chọn đường chỏ, đường phèn từ các tỉnh miền Trung mang ra, chủ yếu là từ Quảng Nam, Quảng Ngãi. Mỡ lợn phải chọn mua đúng loại mỡ lợn ỷ, rán lấy nước trong. Đường đặc trộn với bột đậu, cho thêm một chút dầu bưởi thơm vào. Dùng quả lăn nhào kỹ, nhuyễn, tơi mát rồi mới cho mỡ lợn vào luyện, lúc nào dẻo, đóng được vào khuôn là được. Cho bánh vào khuân phải nhẹ nhàng bánh mới được vuông đẹp. Khi đã chế biến xong, bánh sẽ có màu vàng sẫm, thơm mùi đậu xanh, hoa bưởi và nổi lên gọn, rõ hai chữ Hanh Tụ.

Bánh đậu xanh Hanh Tụ là sự kết hợp giữa nguyên liệu tốt và sự khéo léo của người chế biến, đã trở thành món quà đặc sản có gía trị trong đời sống văn hoá ẩm thực của người Thành Nam. Bánh thường được gói bằng giấy Pơluya hoặc giấy điều, sau này gói bằng giấy nilon nhuộm vàng. Mỗi phong bánh vuông thường 10 cái, dài khoảng 10 cm.

Nếu như người Hải Dương tự hào có bánh Rồng vàng, Hưng Nguyên thì người Thành Nam tự hào về bánh đậu xanh Hanh Tụ.
 
Gạo Tám xoan Hải Hậu
Từ đời này qua đời khác, người dân vùng đồng bằng Bắc bộ đều gọi loại gạo đặc sản của đồng ruộng hai bên bờ sông Ninh Cơ với cái tên giản dị, mộc mạc đáng yêu như cô thôn nữ, đằm thắm, dịu dàng - gạo tám. Cái tên chứa đựng nhiều ý nghĩa, vừa gợi nhớ đến tình làng nghĩa xóm, vừa khẳng định đã là gạo tám thì phải thơm, phải ngọt, dẻo.

Gạo tám có hai loại, tuy cùng hình dáng, hương vị giống nhau nhưng chất lượng chênh lệch. Chỉ những người sành sỏi mới phân biệt được đâu là tám cổ ngỗng, đâu là tám xoan.

Tám cổ ngỗng trồng không kén đất, trên cánh đồng lúa mùa ta có thể thấy những mảnh ruộng cấy tám cổ ngỗng trải dài, những ngọn lúa vàng vươn cao, đu đưa cổ con ngỗng đang vươn ra ngúc ngoắc, loại gạo này dùng để kinh doanh và bán cho các nhà hàng cơm vì sản lượng nhiều, nhưng vị thơm và dẻo không bằng tám xoan.

Gạo tám xoan phải trồng ở những nơi ruộng bùn pha cát, kề bên bờ sông, khi mưa dầm không úng, nắng hạn không khô. Loại gạo này để dành cho ngày tết, ngày giỗ hay để chiêu đãi những thượng khách, bạn bè thân hoặc đong năm, ba cân làm quà biếu... hạt gạo tám xoan thon, dài mỏng mình, mầu trắng xanh như cô con gái "mỏng mày hay hạt". Chỉ cần một vốc gạo nhỏ cũng đã toả mùa thơm ngát. Nồi cơm vừa chín tới, hé mở nắp vung là trong nhà, ngoài ngõ đã ngửi thấy mùi thơm lừng. Nấu tám xoan muốn ngon phải nấu bằng niêu đất hay nồi gang đun lửa rơm. Cơm tám xoan nếu ăn cùng thức ăn xào hay chan canh sẽ mất hết vị ngon, dẻo của gạo; hợp nhất với gạo tám xoan là ăn với giò lụa, chả quế, rưới thêm ít nước mắm nhĩ, rắc chút hạt tiêu. Sau một ngày lao động mệt mỏi, được nâng bát cơm nóng hổi, thơm lừng ăn kèm cá bống, cá quả kho khô, cá rô rán giòn... hoặc tôm, thịt rim thì ngon biết mấy.

Bát cơm tám thơm ăn cùng con cá đồng do bàn tay mẹ kho, mùi thơm của gạo, vị ngọt của cá, mùi cay nồng của hạt tiêu... hoà quyện vào nhau ấm áp tình quê đã khắc sâu nỗi nhớ, nỗi mong của những ai xa xứ, mỗi buổi chiều ngóng về quê hương như nhìn thấy những làn khói lam chiều toả trên nóc bếp xóm làng.


Xây dựng thương hiệu cho gạo tám Xoan

Một trong những quy trình sản xuấtgạo tám Xoan Hải Hậu.

Hiệp hội gạo tám Xoan Hải Hậu (Nam Định) vừa chính thức trình Cục Sở hữu trí tuệ công nhận, bảo hộ tên gọi xuất xứ gạo tám Xoan. Đây cũng là bước khởi đầu cho việc xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam.Lâu nay, gạo Việt Nam hiện chủ yếu xuất vào các thị trường tiêu dùng đòi hỏi thấp và khả năng tiêu thụ hạn chế như châu Á, Trung Đông, châu Phi... không phải vì gạo Việt Nam không ngon mà vì không có thương hiệu cho gạo đặc sản nên thế giới không biết đến. Tiến sĩ Đào Thế Anh-Trưởng Bộ môn Hệ thống nông nghiệp thuộc Viện khoa học nông nghiệp Việt Nam, cho biết: “Viện cùng với sự trợ giúp khoa học của các viện nghiên cứu đầu ngành của châu Âu, đã và đang tiến hành xây dựng tên gọi xuất xứ (AOD) có bảo hộ trên toàn thế giới cho gạo tám Xoan Hải Hậu”.

Tên gọi xuất xứ hàng hoá là một khái niệm rất mới đối với sản phẩm nông sản và đến nay ở Việt Nam chưa có một nông sản nào có thương hiệu được nhà nước bảo hộ trên thị trường. Những sản phẩm đã nổi tiếng trên thị trường như: nước mắm Phú Quốc, Chè San tuyết Mộc châu...cũng mới chỉ được đăng bạ chứ chưa được bảo hộ trên thị trường. Tiến sĩ Đào Thế Anh nói: “Chính vì vậy khi quyết định tiến hành hoạt động này chúng tôi cũng đã xác định đây là một lĩnh vực rất mới ở Việt Nam và đòi hỏi rất nhiều cố gắng, công sức thì mới có thể đạt được mục tiêu cuối cùng là gạo tám Xoan được bảo hộ với hình thức tên gọi xuất xứ”.
Theo kỹ sư Đào Đức Huấn - người của Viện KH nông nghiệp “thường trực” ở Hiệp hội, việc xây dựng tên gọi cho sản phẩm là một cách làm phổ biến trên thế giới để bảo tồn các giống truyền thống, kỹ thuật bản địa và văn hoá người dân. Nếu dự án thành công, gạo tám Xoan Hải Hậu sẽ là thương hiệu đầu tiên cho gạo Việt Nam.Tên gọi xuất xứ là một thương hiệu mang tính cộng đồng không mua bán được, tất cả các tác nhân trên địa phương đó, nếu tuân thủ các quy định nhất định, đều có quyền kinh doanh thương hiệu này theo quy định của WTO. Tuy nhiên, ông Phạm Lập-Chủ tịch Hội nông dân huyện Hải Hậu khẳng định "Hiện nay, chỉ có duy nhất sản phẩm gạo tám Xoan Hải Hậu của Hiệp hội là tuân thủ các quy định của tên gọi xuất xứ, đây có thể nói là một sản phẩm đầu tiên của nông nghiệp Việt Nam thực hiện xây dựng tên gọi xuất xứ theo thể thức mới, đặc biệt là xây dựng được hệ thống quản lý chất lượng trong quá trình sản xuất, chế biến và thương mại".


Được biết, hồ sơ xin đăng bạ và hồ sơ xin bảo hộ gạo tám Xoan Hải Hậu đã được đệ trình lên Cục sở hữu trí tuệ, tuy nhiên theo Cục sở hữu trí tuệ thì cơ chế hiện hành cho việc đăng ký nói trên đã không còn hiệu lực từ cuối năm 2004, và cơ chế mới thì đang chờ phê duyệt. Bởi vậy, thời gian chờ đợi để “thương hiệu” của Hiệp hội được thông qua vẫn chưa có “cấp” nào trả lời cụ thể, “đến khi nào quy chế mới có hiệu lực thì hồ sơ của chúng tôi mới bắt đầu được xem xét đến” - Ông Huấn nói.

Những người nông dân có thể dễ dàng đoán trước thời gian đâm hạt trổ bông của cây lúa, thế nhưng cho đến bao giờ “hồ sơ cây lúa” được thông qua thì họ vẫn chưa có câu trả lời. “Và trong thời gian chờ đợi trên thị trường Hà Nội, đặc biệt là tại các siêu thị, gạo tám Xoan Hải Hậu đang được bày bán tràn lan mà đa số đều là các sản phẩm không hề tuân thủ các quy định của tên gọi xuất xứ. Trong khi đó, Hiệp hội ra đời lại là điều kiện để nhiều cá nhân lợi dụng nhái nhãn mác, với điều kiện hiện nay Hiệp hội vẫn chưa có đủ khả năng về tài chính cũng như chế tài để kiểm soát được vấn đề này ” - Bà Hoàng Thị Nhẫn, Chủ tịch Hiệp hội gạo tám Xoan Hải Hậu nói.

 Kẹo sìu châu Nguyên Hương
Kẹo sìu châu là món quà đặc sản của gia đình tư nhân và ở Thành Nam hiện nay có gia đình ông Đỗ Đình Thọ làm được kẹo này.

Nguyên liệu: lạc, nếp cái, đường, bột, mạch nha. Ngày xưa gia đình phải tìm mua loại " lạc bò " sáu tháng mới nhổ để làm kẹo sìu châu, nay dùng lạc chay vẫn đảm bảo được độ bùi, ngậy, lượng đạm cao.

Thao tác kỹ thuật là do người có tay nghề thủ công tinh xảo, dẻo tay, giữ nhiệt độ ổn định của bếo khoảng 300 độ C. Đặc biệt phải ước lượng được lượng đường, lạc, mạch nha phù hợp cho mỗi mẻ kẹo. Nấu kẹo sìu châu yêu cầu phai trong thời gian ngắn, thao tác nhanh và phải là người có kinh nghiệm mới nắm được bí quyết hoán đường đến độ nào thì cho đường vào.

Dùng chảo đồng điếu để hoán đường là tốt nhất, làm cho mẻ kẹo không bị dính chảo. Cho một ít nước lã ào hòa tan đường, đun sôi, cho mạch nha vào và sắc tới đặc ( đường có sợi tơ ). Khi đường đã đủ độ cho lạc rang vào, trong vòng 5 phút vừa đảo nhanh đã phải bắc ra ngay, đổ kẹo lên bàn. Trong vòng 10 phút phải cán kẹo và cắt xong kẹo, nếu không thao tác kịp kẹo sẽ bị cứng không cắt được. Chính do phải thao tác nhanh, nên kẹo sìu châu không vuông ở các cạnh, hình thức không được đẹp nhưng chất lượng kẹo được đảm bảo giòn, thơm ngậy.

Kẹo sìu châu khi thành phẩm có màu nâu hồng và trong như hổ phách. Cho kẹo vào chum đựng bột nếp hương ủ vừa tạo nếp áo giữ cho kẹo giòn được lâu vừa làm cho kẹo được quyện vào hương thơm của nếp.

Xưa kẹo sìu châu được gói trong giấy bồi màu hoàng yến, buộc bằng lạc đỏ hình tháp cụt. Nay kẹo đá có mẫu hộp đẹp, lịch sự được bao bọc bằng giấy chống ẩm giữ cho kẹo được giòn lâu không mất mùi thơm.

Ăn kẹo sìu châu cắn từng miếng kẹo ngậm tơi bột, ăn chậm rãi mới thấy được vị ngon của kẹo. Kẹo ăn giòn tan không dính răng, thơm lừng, ngọt đậm đà.Ăn kẹo có sự hòa quyện giữa hương thơm của lạc rang, của bột nếp hương, vừa có vị bùi ngậy của lạc và độ giòn của mạch nha.

Ăn kẹo sìu châu phải biết thưởng thức hương thơm, vị đậm đà của kẹo, ngắm nhìn thanh kẹo trong suốt tinh tế va ăn kẹo nghe được tiếng kẹo vỡ giòn tan trong lưỡi.
 
Tái thỏ - đặc sản Nam Định

Ai đã từng một lần qua vùng Hải Hậu (Nam Định), hẳn đã được nếm món tái thỏ áp chảo hấp dẫn. Mùi thơm gia vị hòa quyện cùng vị ngọt của thịt thỏ, lại có chút rượu nếp Hải Hậu kèm theo, sẽ đem đến cho thực khách cảm giác khó quên.

Món tái thỏ áp chảo nghe qua tưởng chừng như đơn giản, nhưng quá trình chế biến lại khá cầu kỳ và tỉ mỉ.
Để có một đĩa tái thỏ ngon lành, cần cẩn thận ngay từ khâu chọn thỏ. Thỏ phải chọn loại nạc thịt, nặng từ 2 kg trở lên. Sau khi cắt tiết làm sạch lông, đem thui trên rơm vàng và luôn giữ đều lửa, để thịt thỏ đạt đến độ vàng vừa phải. Thui xong, lọc bỏ xương, đem thịt ướp với sả, tỏi, ớt bột, ngũ vị hương, hạt tiêu và một chút nước mắm ngon. Để 30 phút cho gia vị ngấm vào thịt rồi đem đi áp trên chảo mỡ hoặc dầu nóng. Sau đó thịt thỏ được thái mỏng trộn với vừng rang ăn kèm với khế chua, chuối chát, rau thơm cuốn trong bánh tráng, chấm với tương Bần hoặc mắm tỏi.  

Trắm đen kho - đặc sản thành Nam

Ao có con trắm đen cũng như nhà có con chó, nghĩa là nó giữ cá cho mình. Những người có kinh nghiệm thả cá ao bảo thế. Trắm đen không có được những đặc tính như con khuyển, không biết sủa và cũng chẳng trung thành gì với con người. Nó giữ được ao cá chỉ vì nó rất khoẻ, với cái đầu rắn như thép. Một con trắm đen cỡ vài ký mắc lưới hay sa vũng nước cạn, phải một người rất khoẻ mới bắt nổi, trong khi những con cá khác cùng cỡ chỉ một đứa trẻ con cũng xong. Gặp nguy hiểm, trắm đen quẫy nước rất to, cứ uồm uồm. Các loại lưới thông thường gặp trắm đen là thủng toang ngay chỉ sau một cú húc. Thế nên kẻ đánh lưới trộm ban đêm, gặp phải ao có trắm đen, nhiều khi chẳng được con cá nào mà lại còn hỏng lưới. Còn nếu gặp những loại lưới cực bền, thì nhờ tiếng quẫy nước dữ dội khi gặp nguy của nó, chủ ao cũng biết...

Trong các loại cá nước ngọt, thì ba loài trắm đen, lăng, chiên là quý nhất. Nhưng đầu bảng phải là trắm đen. ở Hà Nội, giá các loại cá khác cao lắm là 30 ngàn đồng/kg, thịt thăn 35 ngàn đồng/kg trong khi trắm đen 35-37 ngàn đồng/kg. Mật trắm đen uống vào khỏe ngang mật rắn.
Trắm đen sống dưới tầng đáy của ao, ăn cá con, tôm, tép. Nhưng món nó khoái nhất là ốc. Những loài ốc ao vỏ cứng là thế, gặp hàm răng trắm đen là vỡ tan ngay. Cái ao một sào chỉ cần một đôi trắm đen là không còn sót con ốc nào. Trắm ao lớn hết cỡ thường chỉ đạt 6-7kg, nhưng tôi đã gặp ở sông Đà, ở Hồ Tây những con trắm đen nặng tới nửa tạ. Hai người lớn xỏ đòn vào mang cá khiêng mà đuôi vẫn quét đất.
Thịt trắm đen qua chế biến có một hương vị rất thơm ngon. Trắm đen rán, nấu, om, kho đều ngon cả. Nhưng nếu bạn về Nam Định mà được ăn một bữa cá trắm đen kho theo "kiểu Nam Định" thì tôi đảm bảo là bạn sẽ nhớ đời. Để làm một nồi cá kho, người thành Nam phải chuẩn bị có khi cả buổi chiều. Con trắm bắt lên còn tươi nguyên, bỏ đầu đuôi, lấy độc khúc giữa. Mổ bụng, lọc bỏ xương sống, rút xương sườn. Xắt miếng cá vuông con cờ cỡ nửa bàn tay, ướp tiêu, mắm muối, mì chính để chừng một giờ đồng hồ. Nồi kho cá phải là nồi đất. Lót một lớp riềng mỏng dưới đáy nồi. Lớp thứ hai là mía róc vỏ, chẻ nhỏ ra. Lớp thứ ba: sườn lợn miếng. Lớp thứ tư mới là cá. Cứ một lớp cá lại một lớp riềng, một lớp mía, một lớp sườn như thế. Lớp cuối cùng là lá hành khô... Đổ ngập nước, đậy vung thật khít (thường người ta phải đặt ngang miệng nồi bằng một lớp lá chuối tươi rồi mới úp vung để đảm bảo độ khít). Đặt nồi vào giữa bếp, chất củi xung quanh đốt to. Ước chừng cạn độ 1/2 nước thì đổ trấu lên củi, vùi kín cả nồi. Trên lớp trấu phủ một lớp gio mỏng. Trấu cháy âm ỉ suốt đêm. Sáng hôm sau, nồi cá khô cong. Chuẩn bị một bát con nước mỡ. Mở vung nồi ra rưới hết bát mỡ vào...
Tôi không đủ chữ để phân tích cái vị thơm ngon của miếng cá kho kiểu Thành Nam ấy. Tốt hơn hết, xin mời bạn chu du về quê hương của nó.