|
Thứ Tư, 9 tháng 5, 2012
Kẹo Sìu Châu - quà quê đặc sản xứ thành Nam
Về Nam Định thưởng thức “bánh cuốn làng Kênh”
|
Bánh phu thê
Chất hóm hỉnh trong ca dao tình yêu Nam bộ
|
Làng gốm Bát Tràng
Đã từ
lâu đồ gốm sứ Bát Tràng là mặt hàng xuất khẩu có giá trị. Theo các nhà
khảo cổ, thì ngay thời Lý, thời Trần, sứ Bát Tràng đã được xuất đi nhiều
nơi như: Nhật Bản, Malaysia, Thái Lan, Bồ Đào Nha, Pháp...
Ca dao cổ có viết:Ước gì anh lấy được nàngTheo truyền thuyết, người làng Bồ Bát (Thanh Hóa) từ thời Lý, ra Thăng Long lập nên phường gốm Bát Tràng ven bờ sông Hồng.
Để anh mua gạch Bát Tràng về xây
|
Nghệ nhân cao tuổi của làng gốm Bát Tràng |
Đã từ lâu đồ gốm sứ Bát Tràng là mặt hàng xuất khẩu có giá trị. Theo các nhà khảo cổ, thì ngay thời Lý, thời Trần, sứ Bát Tràng đã được xuất đi nhiều nơi như: Nhật Bản, Malaysia, Thái Lan, Bồ Đào Nha, Pháp... Qua khai quật ở cửa cảng Vân Đồn (Quảng Ninh), phố Hiến (Hưng Yên)..., ta còn gặp rất nhiều hiện vật gốm sứ Bát Tràng.
Gốm Bát Tràng từ xưa đã có một phong cách đặc biệt,
không lẫn với gốm sứ các địa phương khác
Các mặt hàng gốm men ngọc, men hoa lan, men rạn của Bát Tràng rất đặc
biệt. Như bát, đĩa, đôn, chậu, thống, chân đèn... của Bát Tràng từ xưa
đã có một phong cách đặc biệt, không lẫn với gốm sứ Thổ Hà, Phủ Lãng,
Hương Canh...không lẫn với gốm sứ các địa phương khác
Từ thời xa xưa cho đến ngày nay, Bát Tràng vẫn luôn có hàng trăm lò gốm nhả khói. Cuộc sống lao động sản xuất thương mại ở đây, từ bao đời, vẫn luôn sôi động. Bến sông thuyền bè tấp nập chở than, củi, đất sét là nguyên liệu sản xuất đến Bát Tràng. Cùng hàng loạt thuyền bè chở sản phẩm gốm từ Bát Tràng đi các tỉnh gần, tỉnh xa. Vào làng, trong bất kỳ ngõ xóm nào, đều thấy tất bật người làm đất, người chuốt hình, người tráng men, người chuyển sản phẩm vào lò, người ra lò. Sản phẩm gốm bề bộn, bày biện trong nhà này, nhà kia, ngõ này, ngõ nọ. Bát Tràng là một công trường thủ công sôi động bậc nhất của đất Thăng Long xưa và nay.
Là làng nằm ven sông, nguồn đất làm gốm ở đây phải đi khai thác từ Sơn Tây, Phúc Yên, Đông Triều về. Nguồn đất sét ở Hồ Lao, Trúc Thôn rất tốt, sét trắng, mịn, chịu nhiệt cao.
Gốm nghệ thuật Bát Tràng
rất được ưa chuộng trên thị trường hiện nay
Chỉ cần nói riêng công đoạn xử lý đất sét để làm gốm sứ ở Bát Tràng
đã thấy lắm công phu. Đất sét chở về, được đổ ngâm vào hệ thống bể chứa
bể lọc. Đất sét được ngâm trong nước một vài tháng cho phân rã, tới độ
chín, đánh tơi, nhuyễn trong bể chứa, đoạn tháo xuống bể lọc cho lắng,
lọc tạp chất hữu cơ nổi trên hớt bỏ. Phần đất sét nhuyễn, sạch lắng dưới
được chuyển sang bể phơi, bể ủ. Tới đây, đất sét trắng, mịn, sánh như
bột gạo, mới đem lên sản xuất gốm sứ được.rất được ưa chuộng trên thị trường hiện nay
Dụng cụ sản xuất chính của lò gốm cổ là cái bàn xoay. Bàn xoay được chôn xuống đất, người thợ ngồi chân đạp bàn xoay, tay buông bắt từng thỏi đất, chuốt lên thành bình, thành lọ, bát, đĩa. Tay người thợ như có ngữ, họ làm thủ công, vậy mà các sản phẩm có độ giống nhau khá cao, như có khuôn dập. Mãi sau này, kỹ nghệ làm đất sét thật nhuyễn, rồi rót vào khuôn thạch cao để tạo nên các sản phẩm gốm mộc, đã là cuộc các mạng kỹ thuật với làng gốm. Hiện tại, số hàng gốm chuốt tay ở Bát Tràng còn duy trì, song ít. Đa số hàng rót khuôn, vì thế tạo năng suất rất cao cho thôn xóm.
Chậu gốm Bát Tràng đắp nổi ba màu thế kỷ XIX
Khi gốm mộc được phơi khô, chuyển qua công đoạn vẽ và tráng men.
Người thợ gốm Bát Tràng có hoa tay vẽ hoa lá, chim muông, người vật để
trang trí lên đồ gốm tăng vẻ đẹp. Men gốm Bát Tràng xưa nay được xếp
hàng nhất so với các vùng gốm khác ở nước ta. Men ngọc, men hoa lam, men
rạn... là những men truyền thống của Bát Tràng. Bí quyết pha men ở đây
không dễ gì thợ gốm nơi khác bắt chước được.Qua từng gia đoạn sản xuất, người thợ Bát Tràng lại cải tiến tạo nên nhiều kiểu lò nung gốm thích hợp. Từ kiểu lò cổ truyền xưa là lò ếch, tới lò dàn, lò bầu, lò hộp... mỗi loại lò nung lại thích hợp với từng loại sản phẩm khác nhau. Nguyên liệu để nung lò cũng được thay đổi theo tưng giai đoạn. Từ việc đốt lò bằng cỏ khô, rồi tiến tới củi, than đá, nay có lò thí nghiệm đốt bằng điện, bằng ga, đã dần nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ giá thành.
Ngày nay, khoa học kỹ thuật đã được áp dụng nhiều khâu trong sản xuất gốm, song riêng khâu đốt lò vẫn còn giữ nhiều tín ngưỡng. Ngày giờ đốt lò, ra lò, là những ngày thiêng liêng với thợ gốm. Kỹ thuật đốt lò quyết định chất lượng sản phẩm gốm sứ.
Gạch cổ Bát Tràng thế kỷ XV
Ca dao cổ có nói về gạch Bát Tràng, đó là những viên gạch lớn được
xếp làm bao thơi trong lò. Vì được làm từ chất đất sét tốt, được nung
trong lò chín đều, nên những viên gạch Bát Tràng ngày xưa rất nuột, chín
già. Gạch Bát Tràng xưa thường được dành để xây đình, xây chùa, bó quây
bờ giếng, bờ ao làng. Những viên gạch tốt, xây trần, chịu mưa nắng bao
năm trời, không rêu, không xói mòn, đủ biết kỹ thuật của người thợ gốm
ra sao.
(Theo Nghề Cổ đất Việt của Vũ Từ Trang)
Thành nhà Hồ, công trình độc nhất vô nhị tại Việt Nam
Được xây dựng bằng những phiến đá dài trung bình 1,5 m, có tấm tới 6 m, xếp chồng lên nhau mà không cần chất kết dính, hơn 600 năm qua, hệ thống tường bao quanh thành nhà Hồ vẫn còn khá nguyên vẹn.
Thành nhà Hồ hiện nay nằm trên hai xã
Vĩnh Tiến và Vĩnh Long (Vĩnh Lộc, Thanh Hoá). Đây là công trình kiến
trúc bằng đá độc đáo có một không hai tại Việt Nam. Được Hồ Quý Ly cho
xây dựng vào năm 1397, thành này còn được gọi là Tây Đô (hay Tây Giai)
để phân biệt với Đông Đô (Thăng Long - Hà Nội). Xây xong thành, Hồ Quý
Ly đã dời đô từ Thăng Long về Tây Đô.
Theo sử liệu, vào năm 1397, trước nguy cơ đất nước bị
giặc Minh từ phương Bắc xâm lăng, Hồ Quý Ly đã chọn đất An Tôn (nay là
Vĩnh Lộc, Thanh Hóa) để xây dựng kinh thành nhằm chuẩn bị cho một cuộc
kháng chiến lâu dài, đồng thời cũng là cách để hướng lòng dân đoạn tuyệt
với nhà Trần.
| Cổng thành phía Nam là cổng chính dẫn vào Hoàng thành. Ảnh: Lê Hoàng. |
Thế đất được chọn nằm ở khu vực giữa sông Mã và sông
Bưởi, phía bắc có núi Thổ Tượng, phía tây có núi Ngưu Ngọa, phía đông có
núi Hắc Khuyển, phía nam là nơi hội tụ của sông Mã và sông Bưởi.
Thành nhà Hồ gồm 3 bộ phận, La thành, Hào thành và
Hoàng thành. La thành là vòng ngoài cùng, chu vi khoảng 4 km. Hào thành
được đào bao quanh bốn phía ngoài nội thành, cách chân thành theo các
hướng khoảng 50 m. Công trình này có nhiệm vụ bảo vệ nội thành.
Hoàng thành được xây dựng trên bình đồ có hình gần
vuông. Chiều Bắc - Nam dài 870,5 m, chiều Đông - Tây dài 883,5 m. Bốn
cổng thành theo chính hướng Nam - Bắc - Tây - Đông gọi là các cổng Tiền -
Hậu - Tả - Hữu. Mỗi cửa đều được mở ở chính giữa. Các cổng này được xây
dựng theo kiến trúc hình mái vòm. Những phiến đá trên vòm cửa đục đẽo
hình múi bưởi, xếp khít lên nhau.
Cổng tiền (cổng phía Nam) là cổng chính, có ba cửa.
Cửa giữa rộng 5,82 m, cao 5,75 m, hai cửa bên rộng 5,45 m, cao 5,35 m.
Ba cổng còn lại chỉ có một cửa. Tường thành cao trung bình 5-6 m, chỗ
cao nhất là cổng tiền cao 10 m.
Nối liền với cửa Nam là con đường Hoa Nhai (đường
Hoàng Gia) lát đá dài khoảng 2,5 km hướng về đàn tế Nam Giao (nơi nhà
vua tế lễ) được xây dựng vào tháng 8/1402.
| Trải qua hơn 600 năm với những thăng trầm của lịch sử và tác động của thời tiết, tường thành phía ngoài còn khá nguyên vẹn. Ảnh: Lê Hoàng. |
Toàn bộ tường thành và bốn cổng chính được xây dựng
bằng những phiến đá vôi màu xanh, được đục đẽo tinh xảo, vuông vức, xếp
chồng khít lên nhau. Các phiến đá dài trung bình 1,5 m, có tấm dài tới 6
m, trọng lượng ước nặng 24 tấn. Tổng khối lượng đá được sử dụng xây
thành khoảng 20.000 m3 và gần 100.000 m3 đất được đào đắp công phu.
Những phiến đá nặng hàng tấn chỉ xếp lên mà không cần
chất kết dính vẫn đảm bảo độ bền vững. Qua hơn 600 năm cùng những biến
cố thăng trầm của lịch sử và tác động của thời tiết, hệ thống tường
thành còn khá nguyên vẹn, dù thời gian xây dựng rất gấp gáp, chỉ trong
khoảng 3 tháng.
Theo sử sách trong thành còn rất nhiều công trình được
xây dựng, như điện Hoàng Nguyên, cung Diên Thọ (chỗ ở của Hồ Quý Ly),
Đông cung, tây Thái Miếu, đông Thái miếu, núi Thọ Kỳ, Dục Tượng... rất
nguy nga, chẳng khác gì kinh đô Thăng Long.
Tuy nhiên, trải qua hơn 600 năm tồn tại, hầu hết công
trình kiến trúc bên trong Hoàng thành đã bị phá hủy. Những dấu tích nền
móng của cung điện xưa giờ vẫn đang nằm ẩn mình phía dưới những ruộng
lúa của người dân quanh vùng.
| Trong số hàng nghìn hiện vật được khai quật ở thành nhà Hồ, có nhiều loại vũ khí gồm đạn đá, chông sắt bốn cạnh, mũi dao, mũi tên, đinh thuyền... Ảnh: Lê Hoàng. |
Ngày 27/6, tại phiên họp lần thứ 35 của Ủy ban di sản
thế giới thuộc Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục Liên hợp quốc
(UNESCO) diễn ra tại thủ đô Paris (Pháp), thành nhà Hồ đã được công nhận
là di sản văn hóa thế giới.
Ông Vương Văn Việt, Phó chủ tịch UBND Thanh Hóa cho
biết, thời gian tới, tỉnh sẽ triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm bảo
vệ và phát huy giá trị lịch sử của di tích này. Trước mắt tỉnh sẽ thực
hiện việc bảo tồn, tu bổ, tôn tạo theo đúng luật Di sản văn hóa của Việt
Nam và Công ước quốc tế về di sản thế giới, tiếp tục xây dựng và trình
Thủ tướng phê duyệt kế hoạch bảo tồn, trùng tu di sản này.
Tiếp đó tỉnh sẽ phối hợp với cơ quan chức năng từng
bước khai quật khảo cổ học, kêu gọi nguồn lực đầu tư nhằm làm tăng thêm
sức hấp dẫn di tích và thu hút du khách. “Cùng với cố đô Huế, Hoàng
thành Thăng Long, tỉnh Thanh Hóa rất vinh dự và tự hào vì có một kinh
thành được công nhận là di sản văn hóa thế giới”, ông Việt nhấn mạnh.
Lê Hoàng
Cận cảnh thành nhà Hồ
| Cổng thành phía Nam là cổng chính dẫn vào Hoàng thành. Cổng này có ba cửa (cửa giữa rộng 5,82 m, cao 5,75 m, hai cửa bên rộng 5,45 m, cao 5,35 m). |
| Cổng thành phía Bắc. |
| Cổng phía Đông. |
| Cổng phía Tây. |
| Các cổng được xây dựng theo kiến trúc hình mái vòm. Những phiến đá trên vòm cửa đục đẽo hình múi bưởi, xếp khít lên nhau. |
| Toàn bộ tường thành và bốn cổng chính được xây bằng những phiến đá màu xanh, được đục đẽo tinh xảo, vuông vức, xếp chồng khít lên nhau. Các phiến đá dài trung bình 1,5 m, có tấm dài tới hơn 6 m, trọng lượng ước nặng 24 tấn. |
| Nếu như mặt ngoài tường thành được ghép bằng đá xanh thì mặt trong tường được đắp bằng đất và đá nhỏ. |
| Trải qua hơn 600 năm tồn tại với rất nhiều thăng trầm của lịch sử và tác động của thời tiết, hiện nay một số đoạn thành ở khu vực phía đông và phía bắc đang bị sạt lở. |
| Theo sử sách trong thành có điện Hoàng Nguyên, cung Diên Thọ (chỗ ở của Hồ Quý Ly), Đông cung, tây Thái Miếu, đông Thái miếu, núi Thọ Kỳ, Dục Tượng... rất nguy nga, chẳng khác kinh đô Thăng Long. Dấu tích nền móng của những cung điện xưa đang nằm ẩn mình dưới những ruộng lúa của người dân quanh vùng... Ảnh chụp mặt trong thành nhà Hồ nhìn từ cổng phía Nam. |
| Ở giữa hoàng thành giờ chỉ còn lại hai con rồng đá bị chặt mất đầu. Theo các nhà nghiên cứu mỹ thuật cổ, đôi rồng đá này thuộc loại tượng rồng lớn và đẹp nhất còn lại ở Việt Nam... |
| Từ năm 2004 đến nay, qua nhiều lần khai quật khảo cổ quần thể di sản thành nhà Hồ, các nhà khoa học đã phát hiện hàng chục nghìn di vật, hiện vật quý liên quan đến triều Hồ như bi đá (dùng kết hợp với các con lăn để vận chuyển những khối đá lớn phục vụ việc xây tường thành)... | ||
| Gạch bìa bằng đất nung dùng để xây dựng phía trên lớp tường thành bằng đá, nhằm tạo độ cao cho thành, cũng như tạo điều kiện cho quân sĩ quan sát xung quanh thành khi tuần tra, canh gác. | ||
| Ngói đầu đao, đầu rồng... dùng để trang trí góc mái cung điện thời nhà Hồ. | ||
| ||
| Cùng hàng nghìn hiện vật bằng gốm có giá trị khác. | ||
| Đặc biệt, trong đó có các loại vũ khí gồm đạn đá, chông sắt bốn cạnh, mũi dao, mũi tên, đinh thuyền. Điều đó chứng tỏ công tác phòng thủ quân sự được triều nhà Hồ rất chú trọng. | ||
| Để hoàn thiện việc định đô của vương triều, năm 1402 nhà Hồ đã cho xây dựng đàn tế Nam Giao ở Đốn Sơn cách thành nhà Hồ khoảng 2,5 km về phía đông nam. Đây là nơi hàng năm vương triều Hồ tiến hành lễ tế trời, cầu cho quốc thái, dân an hoặc vào những dịp đại xá thiên hạ. | ||
| Vật liệu kiến trúc chính để xây dựng đàn là đá xanh và gạch ngói bằng đất nung. | ||
| Một công trình được bảo tồn khá nguyên vẹn ở đây là Giếng Vua (hay còn gọi là giếng Ngự Duyên, Ngự Dục). Giếng có hình vuông, được kè đá, dùng để cho nhà vua tẩy trần trước khi hành lễ trên đàn tế. |
Lê Hoàng
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)