Gia phả là bản ghi chép tên họ, tuổi tác, vai trò và công đức của cha
mẹ, ông bà, tiên tổ ... trong thời đại mà họ đã sinh ra và lớn lên của
một gia đình hay một dòng họ. Gia phả có thể được coi như một bản sử ký
của một gia đình hay một dòng họ. Gia phả có khi gọi là Phổ ký, có khi
là Phổ truyền. Các nhà Tông thất (dòng dõi vua quan), có khi gọi gia phả
của vương triều mình hay gia tộc mình bằng từ ngữ trân trọng hơn: Ngọc
phả, Thế phả...
Tại các nước Đông Á, chịu ảnh
hưởng của Đạo Khổng, các thế hệ sau trong dòng họ hay vương triều phải
giữ đạo Trung đạo Hiếu. Việc xây dựng và lưu truyền gia phả được xem là
một cách ghi nhớ công ơn tổ tiên, gây dựng lòng tự hào trong dòng tộc. Ở
Tây phương, người ta có tập tục làm cây phả hệ, tương tự như Tông đồ
của người Hoa hay người Việt.
Một Tông đồ, một Gia phả, một Phả ký, một Phổ truyền dù đơn sơ hay súc
tích cũng đều trở nên những tài liệu quý báu cho nhà xã hội học, nhà sử
học về sau. Nó còn có thể hữu dụng cho những nghiên cứu về tâm lý, về di
truyền học, huyết học, y học nữa.
Môn học nghiên cứu về gia phả là gia phả học.
Việt Nam
Tại Việt Nam, gia phả sơ giản ghi chép tên cúng cơm, ngày giỗ và địa
điểm an táng của ông cha. Theo các nhà sử học phỏng đoán thì gia phả đã
xuất hiện từ thời Sĩ Nhiếp làm Thái thú ở Giao Chỉ, hoặc gần hơn tức là
từ thời Lý Nam Đế (khoảng nǎm 476-545). Nhưng phải đến thời nhà Lý, nhà
Trần mới xuất hiện những cuốn tộc phả, thế phả (ghi cả thế thứ, tông
tích toàn họ), phả ký (ghi lại hành trạng, sự nghiệp của tổ tiên).
Mới đầu gia phả xuất hiện chỉ trong Hoàng tộc cùng giới quan lại, nhà Lý
có Hoàng Triều Ngọc Điệp - năm 1026; nhà Trần có Hoàng Tông Ngọc Điệp,
nhà Lê có Hoàng Lê Ngọc Phả... Cùng với sự xuất hiện các gia phả của
Hoàng tộc là gia phả của các danh gia, quan lại và cứ thế lan rộng, phổ
biến ghi chép gia phả trong nhân dân. Trước đây, gia phả chủ yếu được
ghi chép bằng chữ Hán-Nôm, nhưng số người giỏi không nhiều, qua nhiều
năm chiến tranh, nhiều bộ, cuốn gia phả của nhiều dòng họ cũng mất
dần...
Tục làm gia phả phát triển mạnh ở hai miền Bắc và Trung, miền Nam rất ít
gia đình làm gia phả ở đấy còn được gọi là "gia phổ" và biến thái thành
"tông chi" tức tờ "tông chi tông đồ".
Trong gia phả, người đứng đầu ngành trưởng (trưởng họ, trưởng tộc) có
bổn phận ghi hết những chi tiết về thân thích và dòng dõi; những người
con khác sao lại bản gia phả chính đó. Các gia đình giữ gìn kỹ lưỡng và
truyền từ đời cha tới đời con. "Họ" theo nghĩa gốc có liên hệ với nhà và
dưới chế độ phong kiến, nối kết con người với đất ruộng: một mái nhà,
một gia đình, một họ. Họ và tên của một người định vị trí của cá nhân
người đó trong xã hội, xác định cá thể trong một toàn thể.
Cấu trúc
Gia phả được coi là hoàn chỉnh trước hết phải là một gia phả được ghi
chép rõ ràng, chữ nghĩa chân phương, có nội dung cơ bản như sau:
1. Thông tin rõ ràng về người sao lục (biên soạn).
2. Nêu nguồn gốc xuất xứ của gia tộc, là phả ký hay là gia sử.
3. Ghi Thuỷ Tổ của dòng họ.
4. Ghi từng phả hệ phát sinh từ Thuỷ Tổ cho đến các đời con cháu sau
này. Có phần phả đồ, là cách vẽ như một cây, từng gia đình là từng
nhánh, từ gốc đến ngọn cho dễ theo dõi từng đời. Đối với tiền nhân có
các mục sau đây:
- Tên: Gồm tên huý, tên tự, biệt hiệu, thụy hiệu và tên gọi thông thường. Thuộc đời thứ mấy? Con trai thứ mấy của ai?
- Ngày tháng năm sinh (mất), giờ (nếu nhớ). Mộ nguyên táng, cải táng, di táng tại đâu? Thời gian nào?
- Học hành, thi cử, đậu đạt, chức vụ, địa vị lúc sinh thời và truy phong sau khi mất.
- Vợ: chánh thất, kế thất, thứ thất... Họ tên, con thứ mấy của ai?
Quê ở đâu? Các mục ngày, tháng, năm sinh, ngày, tháng, năm mất, tuổi
thọ, mộ, đều ghi từng người như trên. Nếu có thi đậu hoặc có chức tước,
địa vị, được ban thưởng riêng thì ghi thêm.
- Con: Ghi theo thứ tự năm sinh, nếu nhiều vợ thì ghi rõ con bà
nào? Con gái thì cước chú kỹ: con gái thứ mấy, đã lấy chồng thì ghi tên
họ chồng, năm sinh, con ông bà nào, quê quán, đậu đạt, chức tước? Sinh
con mấy trai mấy gái, tên gì? (Con gái có cước chú còn con trai không
cần vì có mục riêng từng người thuộc đời sau).
- Những gương sáng, những tính cách, hành trạng đặc biệt, hoặc
những công đức đối với làng xã, họ hàng, xóm giềng... Những lời dạy bảo
con cháu đời sau (di huấn), những lời di chúc...
- Ngoài những mục ghi trên, gia phả nhiều họ còn lưu lại nhiều sự
tích đặc biệt của các vị tiên tổ, những đôi câu đối, những áng văn hay,
những bài thuốc gia truyền...đó là những tài sản quý giá mà chúng ta để
thất truyền, chưa biết khai thác.
5. Tiếp theo, là tộc ước. Đây là những quy định-quy ước trong tộc họ,
đặt ra nhằm ổn định tộc họ, có công thưởng, có tội phạt, tất nhiên là
phải phù hợp với luật pháp chung.
- Với một tộc họ lớn, có thể có nhiều tông nhánh, chi phái. Phần
này sẽ ghi những thông tin chi phái, ai là bắt đâu chi, chi hiện ở đâu,
nhà thờ chi...
- Những thông tin khác về tài sản hương hỏa, bản đồ các khu mộ tiền nhân v.v.
Nguồn: Bách khoa toàn thư mở