Thứ Ba, 8 tháng 5, 2012
NHỮNG NGÀY VÍA TRONG NĂM
(Tổng hợp theo Ngọc Lịch và Website Dân tục học Trung Quốc )
(vì không lập được bảng biểu trong trang Web nên quí vị chịu khó đọc từng tháng.Cám ơn)
NGÀY THÁNG GIÊNG (01)
01 -Di Lạc (CD)-Thiên ngươn cổ Phật-Chạp Trời-Nguyên Thỉ Thiên Tôn
02 -Xa công-Đông Ba đế quân
03 -Tôn chơn nhơn (Tổ Y )-Tiên Hát chơn nhơn
04 -Trúc Đồng cô nương
05
06 -NHIÊN ĐĂNG CỔ PHẬT—Thanh Thủy Tổ Sư
07
08 -Giang Đông thần-NGŨ ĐIỆN VƯƠNG-Cống Hiển đại thần thông(8—15)
09 *NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ
10 THỔ THẦN (CD)
11
12 -La Thiên Tuế
13 -Lưu mãnh tướng quân-Ôn công—Hứa công—Quan Thánh đế quân phi thăng
14
15 -Thượng ngươn Thiên quan đại đế-Môn Thần hộ úy
-Hựu Thánh chơn quân chánh nhứt tịnh ứng chơn quả—Hỗn ngươn hoàng đế
-Tây Tử đế quân
16 -Đông Sơ Tổ Sư-Tuy Tịnh Bá
17
18
19 -Trường Xuân Lập chơn nhơn-Môn quan Thổ địa (CD)
20 -Chiêu Tài đồng tử
21
22
23
24
25
26 -Tì Hựu Tài Thần
27
28
29
30
NGÀY THÁNG HAI (02)
01 -Thái Dương thăng điện-NHỨT ĐIỆN TẦN QUẢNG VƯƠNG-Câu Trận chơn nhơn-Sưu
chơn nhơn
(ăn chay, làm lành, lạy hướng Bắc, tụng kinh Thái Dương )
02 -Thổ Địa chánh thần (CD)-Mạnh Phu Tử--TẾ CÔNG Bồ Tát
03 -Văn Xương tử đồng đế quân(tụng kinh Minh Thánh)
04 -Tư Mạng Táo Quân (CD)
05
06 -Đông Ba đế quân
07
08 -Phật xuất gia (CD, tụng kinh Kim Cang)-TAM ĐIỆN Tống Đế vương-Trương đại đế-
-Xướng phước chơn quân—Mã Thần Gia
09
10 THỔ THẦN (CD)
11
12
13 -Cát chơn quân -Hồng Thánh Vương
14
15 -THÁI THƯỢNG LÃO QUÂN (CD, tụng Cảm Ứng)—Cửu Thiên Huyền Nữ-
-Tinh trung nhạc vương—Tam Sơn Quốc Vương
16 -Khai Chương Thánh Vương
17 -Đông phương đế quân
18 -TỨ ĐIỆN NGŨ QUAN VƯƠNG—KHỔNG TỬ Chí Thánh Tiên Sư
19 -Quan Thế Âm Bồ Tát (CD, tụng kinh Phổ Môn, Cứu Khổ, Bạch Y thần Chú )
20 -Phổ Hiền Bồ Tát (CD) có sách ghi ngày 21
21 -Thủy Long thánh mẫu nương nương
22
23
24
25 -Huyền Thiên thánh phụ minh chơn đế
26 -Nam Cung Triệu Chấn Quân
27
28
29
30
NGÀY THÁNG BA (03)
01 -NHỊ ĐIỆN SỞ GIANG VƯƠNG(cử dâm dục )
02
03 -Bắc Cực Chơn Võ huyền thiên thượng đế (CD)—Ngô Thiên Tuế
04 -Trương Vương gia (Thiên Tuế)
05
06 -TẾ CÔNG HOẠT PHẬT-Nhạn Quang nương nương -Trương Lão tướng quân
07
08 -LỤC ĐIỆN BIỆN THÀNH VƯƠNG(ăn chay, van vái )—Triệu Thiên Tuế
09
10 THỔ THẦN (CD)
11
12 -Trung Ương ngũ đạo
13
14
15 -NHIÊN ĐĂNG CỔ PHẬT(CD)—Hạo Thiên đại đế-Y Linh—BẢO SANH ĐẠI ĐẾ
-Nguyễn Đàng Triệu ngươn soái--Lôi đình khu ma đại tướng quân-Tổ Thiên Sư—TÀI THẦN
16 -CHUẨN ĐỀ BỒ TÁT
17
18 -Trung Nhạc đại đế-Hậu Thổ Nương Nương-Tam Mao chơn quân đắc đạo
-Ngọc Dương chơn nhơn—Nam thiên Liêu Tướng Quân
19 -Thái Dương (tụng kinh Thái Dương )
20
21 -CHÚ SANH (Tử tôn) nương nương (Bà chúa thai sanh )có sách ghi ngày 20
22
23 -Bà Thiên Hậu ngươn quân (Thiên Thượng Thánh Mẫu)
24
25
26 -QUỶ CỐC Tiên Sư
27 -THẤT ĐIỆN THÁI SƠN VƯƠNG (chay, tụng kinh)--Xa đại ngươn soái
28 -Đông nhạc đại đế -Thương Hiệt chí thánh tiên sư
29
30
NGÀY THÁNG TƯ (04)
01 -BÁT ĐIỆN ĐÔ THỊ VƯƠNG(ăn chay, tụng kinh)-Tiên công
02
03
04 -Văn Thù Bồ Tát (CD)-Địch Lương công
05
06
07
08 -PHẬT ĐẢN SANH (CD, tụng kinh Kim Cang )-CỬU ĐIỆN BÌNH ĐẲNG VƯƠNG
09
10 THỔ THẦN (CD)
11
12
13 -Tam thiên doãn chơn nhơn-Cát Hiếu Tiên chơn nhơn
14 -Lữ Thuần Dương Tổ sư—Phù Hữu Đế Quân
15 -PHẬT ĐẮC ĐẠO (CD, tụng kinh Kim Cang )-Hớn Chung Ly tổ sư-Huê Quang đại đế
16
17 -THẬP ĐIỆN CHUYỂN LUÂN MINH VƯƠNG (chay, CD)
18 -Thần Y Hoa Đà-Tử Vi Đại Đế-Thái Sơn đảnh thượng nương nương-Tống Sanh tư mã
19
20 -Nhãn quang thánh mẫu nương nương
21 -LÝ THÁC THÁP Thiên Vương (Lý Tịnh)
22
23 -Phổ Hiền Bồ Tát (CD)
24 -Kim Quang Tổ Sư
25 -Vũ An Tôn Vương
26 -Ngũ Cốc Tiên Đế--Nam Côn Thân Lý đại vương gia--Chung Sơn tướng công
27 -Nam Côn Thân Phạm ngũ vương gia
28 -Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật—THẦN NÔNG TIÊN ĐẾ
29
30
NGÀY THÁNG NĂM (05)
01 -Nam Cực Trường Sanh đại đế--Phong Thiên Tuế
02
03
04
05 -Chạp Đất (CD) -Đại Kỳ Ôn nguyên soái -Lôi đình thiên-Huỳnh Mai ngũ tổ quân-Hầu Thiên Tuế
06 -Thanh Thủy Tổ Sư—Tiết Thiên Tuế
07 -XẢO THÁNH Tiên Sư—Châu Thái Úy—Cảnh Thiên Tuế
08 -Nam phương ngũ đạo
09
10 THỔ THẦN (CD)
11 -Thiên Hạ Đô Thành Hoàng
12 -Bỉnh Linh Công—Lư Thiên Tuế
13 -Quan Thánh đế quân—Quan Bình thái tử (CD, tụng kinh Minh Thánh)—Hà Hải Thành Hoàng
14 -Tào Động Tứ Tổ
15 PHẬT THÍCH CA (CD, tụng kinh Kim Cang )
16 -NHƯ LAI PHẬT -Trương Thiên Sư—Tiêu Phủ Vương gia
17 -Thiên địa chủ khí Tạo Hóa vạn vật chi thần
18 -Lão Mẫu nương nương (Tây Vương Kim Mẫu)
19
20 -Đơn Dương Mã chơn nhơn
21
22
23
24
25
26
27
28
29 -Hứa Oai hiển vương
30
NGÀY THÁNG SÁU (06)
01 -Vi Đà tôn giả
02
03
04 -Nam Thiệm bộ châu chuyển đại pháp luân(chư Phật giáng thế, CD, tụng nhiều kinh )
06 -Hồ Gia đản thần (ngày sinh)
07 -Dương tứ tướng quân -Thôi phán quan—Thái Sơn
08 -Duệ Thành Long Mẫu—Tứ Nữ Tiên Tổ
09
10 -Lưu Hải Thiềm đế quân
11 -Điền Đô Nguyên soái
12 -Tỉnh Tuyền Long Vương -BÀNH TỔ
13 -Lỗ Ban Tiên Sư
14
15 -VÔ CỰC Lão thân Lão nương—Vương Linh Thiên Quan
16
17
18 -Nam Côn Thần Trì Nhị vương gia
19 -Quan Thế Âm Bồ Tát thành đạo (CD, tụng kinh Phổ Môn, Cứu Khổ )
20
21
22
23 -Mã thần
24 -Quan Thánh đế quân (CD, tụng Minh Thánh)—NAM CỰC ĐẠI ĐẾ--Lôi Tổ—Hỏa Thần—
Ngũ Lôi thần—Tây Tần vương gia -Hòa hợp nhị tiên
25
26 -Nhị Lang chơn quân
27 -Vương Linh Quang
28
29 -Thiên xu tả tướng chơn quân
30
NGÀY THÁNG BẢY (07)
01 -Thái Thượng Lão Quân (CD)
02
03
04
05
06
07 -Chạp thần tiên (CD)-Khương công—Ngưu Lang Chức Nữ thôi tinh (Thất Tinh )
-Đại Thành Khôi Tinh
08
09
10
11
12 -Trường Xuân chơn nhơn
13 -ĐẠI THẾ CHÍ BỒ TÁT
14 -Khai Cơ Ân Chủ
15 -Trung ngươn địa quan (CD)-Linh Tế chơn quân
16
17
18 -DIÊU TRÌ KIM MẪU
19 -THIÊN NHIÊN CỔ PHẬT—Trị niên Thái Tuế (Ân Giao)
20 -Trương Vương Gia
21 -Phổ Am tam tổ sư-Thượng ngươn đạo hóa chơn quân
22 -Tăng phước Tài thần
23 -Nam cung Liễu tinh quân—Thiên xu thượng tướng chơn quân Gia Cát Lượng—
Pháp chủ ThánhQuân
24 -Long Thọ Vương Bồ Tát-Thành Hoàng-Thao Thánh—Trịnh Diên Bình Quận Vương
25 -Vũ Đức Hầu Thẩm Tổ Công
26
27
28
29 -Địa Tạng Vương Bồ Tát(CD, tụng kinh Địa Tạng) có sách nói ngày 30
30
NGÀY THÁNG TÁM (08)
01 -Hứa chơn quân—-Thần công diệu tế chơn quân-Tả quân LÊ VĂN DUYỆT-Kim giáp thần
02 -Xả Vương
03 -Tư Mạng Táo Quân (CD)-Bắc Đẩu hạ giáng-Lục Tổ Huệ Năng thành đạo-
Cửu Thiên Châu Ân Sư-Khương Tử Nha-Từ Thiên Tuế
04
05 -Ngũ Lôi thanh đại đế (Lôi thanh phổ hóa thiên tôn)
06
07
08 -HỘI YẾN DIÊU TRÌ
09
10 -Bắc Nhạc đại đế--Lâm thủy phu nhân Lý Cô
11
12 -Tây phương ngũ đạo (CD) - Hà Thiên Tuế
13
14
15 -Thái Âm triều ngươn (CD, tụng kinh Thái Âm )—Trấn Tịnh Cô thành đạo—
Nam Côn thần châu tứ vương gia
16 -Tề Thiên Đại Thánh -Châu ngươn soái
17
18 -CỬU THIÊN HUYỀN NỮ--Tửu tiên Lý Thái Bạch—KHAI ĐÀI LOAN Trịnh Quốc Tính
19
20 -Hưng Đạo Đại Vương
21
22 -NHIÊN ĐĂNG CỔ PHẬT (CD)—Quảng Trạch Tôn Vương
23 -Phục Ma phá tướng Trương Hiển Vương—Hình Thiên Vương Gia
24 -Đào Dã Tiên—Nam Côn Thân Vạn Thiện Gia
25 -Thái Dương(CD, tụng kinh Thái Dương )
26
27 -Đại thành chí thánh tiên sư Văn Tuyên, Khổng Tử -- Bắc Đẩu hạ giáng
28
29
30
NGÀY THÁNG CHÍN (09)
01 -Đông Nhạc -Nam đẩu hạ giáng -Bắc đẩu cửu hoàng giáng thế
02
03 -Ngũ Ôn (kiêng dâm )
04
05
06
07 -Thần Quang nhị tổ thành đạo
08
09 :-Đẩu Mẫu ngươn quân -Phong Đô đại đế--Cửu Hoàng đại đế
-Huyền Thiên thượng đế -Cao Lý,Mai Cát nhị tiên ông
-Cửu Thiên Huyền Nữ -Trung Đàn Nguyên Soái
-Trùng Dương đế quân (CD, tụng kinh Bửu Cáo trong Ngọc Lịch )
10
11
12
13 -Mạnh Bà tôn thần (bà cho ăn cháo lú )
14
15 -Triệu đại ngươn soái(CD)—Vô Cực Lão thân Lão nương—Châu Thánh phu tử
--Nam Côn thân Ngô Tam vương gia
16 -Cơ Thần
17 -Kim long tứ đại vương-Hồng Ấn chơn quân tiên phong—Chiêu Tài đồng tử
18 -Thương Thánh Tiên Sư (Thương Hiệt)
19 -Quan Thế Âm Bồ Tát xuất gia (CD, Phổ Môn, Bạch Y)
20
21
22
23 -Tát chơn nhơn
24
25
26
27
28 -Ngũ hiển linh quang -Huê Quang đại đế -Mã ngươn soái
29 -Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật
30
NGÀY THÁNG MƯỜI (10)
01 -Chạp năm (Dân thế lạp)-Đông hoàng đại đế hạ ngươn định chí Châu chơn quân—
Đông Nhạc đại đế
02
03 -Tam Mao ứng hóa chơn quân—Lâm thủy phu nhân Lâm Cô
04
05 -ĐẠT MA TỔ SƯ
06 -Thiên Tào chư ty-Ngũ Nhạc ngũ đế
07
08 -NIẾT BÀN (hội chư Phật, đại kỵ sát sanh )
09
10 -Huê Công, Huê bà -Tây thiên vương—Thủy Tiên Tôn Vương
11
12 --TỀ THIÊN ĐẠI THÁNH
13
14
15 -Hạ ngươn thủy quan đại đế-Đậu thần Lưu sứ giả-Ôn ngươn soái
16 -Vu Sơn Nương Nương
17
18 -ĐỊA MẪU NƯƠNG NƯƠNG
19
20 -Hư Tịnh Thiền Sư
21
22 -Thanh Sơn Linh An Tôn Vương
23 -CHÂU THƯƠNG Tướng quân (có sách ghi ngày 30)
24
25 -Cảm Thiên đại đế Hứa chân nhân
26
27 -Bắc Cực Tử Vi đại đế -Ngũ nhạc thần
28
29
30 -Châu tướng quân (Châu Thương, CD, tụng kinh Minh Thánh )
NGÀY THÁNG MƯỜI MỘT (11)
01
02
03
04 -Đại Thành chí thánh tiên sư Văn Tuyên, Khổng Tử (CD)—An Nam Tôn Vương
05
06 -NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ -Tây Nhạc đạiđế (CD,vía trời)
07
08
09
10
11 -THÁI ẤT CỨU KHỔ THIÊN TÔN
12
13
14
15
16
17 -A-DI-ĐÀ PHẬT (đại lễ)
18
19 -Nhựt quang thiên tử -Đại từ chí thánh Cửu Liên Bồ Tát.
20
21
22
23 -Nam đẩu hạ giáng -Tống Tử Trương Tiên đại đế
24 -Đông Sơ Tổ Sư thành đạo
25
26 -Bắc phương ngũ đạo
27 -Phổ Am Tổ Sư
28
29
30
NGÀY THÁNG MƯỜI HAI (12)
01 -Chư Phật -Chư Tiên (giáng hạ )—Đàm Thiên Tuế
02
03
04
05
06 -Phổ Am Tổ Sư
07
08 -PHẬT THÀNH ĐẠO -Vương Hầu lạp -Trương Anh tế vương
09
10
11
12
13
14
15 -Ôn ngươn soái
16 -TháiThượng LãoQuân (CD) -Nam Nhạc Đại Đế--Phước Đức chánh thần
17
18
19
20 -Lỗ Ban Tổ Sư
21 -Thiên du Thượng đế (dẫy mã cuối năm )
22
23 TƯ MẠNG TÁO QUÂN chầu trời
24
25 *(Đưa Phật, Thánh, Tiên, Thần về cõi trên)
26
27
28
29 -Nam Đẩu & Bắc Đẩu tinh quân hạ giáng-Huê Nghiêm Bồ Tát (cấm phòng )
30 *(Rước Phật, Tiên, Thánh, Thần … + Tư Mạng Táo Quân hồi vị )
Từ ngữ tiếng Việt trong từ điển quốc tế
Hiện nay, tiếng Việt có 3 từ được nằm trong dữ liệu của từ điển Oxford gồm: Áo dài, Phở và Bánh mì.
Áo dài: ao dai /ˈaʊ ˌdʌɪ/
Áo dài là loại trang phục truyền thống của Việt
Nam, che thân người từ cổ đến đầu gối hoặc quá đầu gối, dành cho cả nam
lẫn nữ. Khác với kimono của Nhật Bản hay hanbok của Hàn Quốc, chiếc áo
dài Việt Nam vừa truyền thống lại cũng vừa hiện đại. Trang phục dành cho
nữ này không bị giới hạn chỉ mặc tại một số nơi hay dịp mà có thể mặc
mọi nơi, dùng làm trang phục công sở, đồng phục đi học, mặc đi chơi hay
mặc để tiếp khách một cách trang trọng ở nhà.
Phụ nữ Việt thướt tha trong tà áo dài
Cho đến bây giờ, áo dài xuất hiện từ thời nào vẫn
là chủ đề gây tranh cãi. Theo những hình ảnh khắc trên trống đồng Ngọc
Lũ cách đây vài nghìn năm, phụ nữ đã mặc trang phục với hai tà áo xẻ.
Ngoài ra, cũng có tài liệu ghi Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát được xem là
người có công khai sáng và định hình chiếc áo dài Việt Nam.
Tuy nhiên, dù có nguồn gốc ra sao, áo dài vẫn là
niềm tự hào của người phụ nữ Việt Nam. Đến cả thế giới cũng phải trầm
trồ khen ngợi và chẳng lạ gì khi Oxford đã đưa “Áo dài” vào cơ sở dữ
liệu, với nghĩa: Một loại trang phục của phụ nữ Việt Nam, với thiết kế
hai tà áo trước và sau dài chấm mắt cá chân, áo che bên ngoài chiếc quần
dài.
Áo dài trong hội nghị APEC tổ chức tại Hà Nội năm 2006
Phở: pho /fə ː/
Phở là một món ăn truyền thống của Việt Nam, cũng
có thể xem là một trong những món ăn đặc trưng nhất cho ẩm thực Việt
Nam. Từ những quán bình dân vỉa hè cho đến những nhà hàng sang trọng,
đâu đâu cũng thấy sự xuất hiện món Phở. Trong cuốn từ điển Oxford có
định nghĩa: một loại súp Việt Nam hầm từ xương bò, nấu với mì (bánh phở)
và thêm các loại thịt như bò, gà được cắt lát mỏng.
Phở là món ăn không thể thiếu của người Việt Nam
Bánh mì: banh mi /ˈbɑːn miː/
Đi khắp nơi trên thế giới cũng khó có thể tìm được
quốc gia nào có món bánh mì như Việt Nam. Không giống như Hamburger hay
Sandwich, bánh mì ở Việt Nam có nét rất riêng với bơ, trứng, pate, thịt,
rau… Chính vẻ rất riêng đó, hôm 28/3/2011 vừa qua, Oxford đã bổ sung cả
bánh mì vào trong từ điển với nghĩa: Bánh mì là một món ăn nhẹ, bên
trong kẹp một hoặc nhiều loại thịt, patê và rau củ như cà rốt, dưa
chuột, rau mùi… và kèm gia vị như ớt, hạt tiêu.
Món ăn đơn giản nhưng lại rất hấp dẫn
Thứ Hai, 7 tháng 5, 2012
Những di sản văn hóa Việt Nam dưới lăng kính nhiếp ảnh
NamBun - Theo PLXH
Chúng mình cùng ngắm Việt Nam qua cuộc thi và triển lãm ảnh nghệ thuật “Các di sản thế giới của Việt Nam” năm 2011 các bạn nhé!
Từ những nét bình dị của đời thường, đến những tinh hoa văn hóa của dân tộc Việt đã được thể hiện cực kỳ ấn tượng đấy các bạn!
Cuộc thi và triển lãm ảnh nghệ thuật “Các Di sản Thế giới của Việt Nam” năm 2011 do Cục Mỹ thuật - Nhiếp ảnh và Triển lãm; Cục Di sản Văn hóa, Tổng Cục Du lịch và Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam phối hợp tổ chức chào mừng 66 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh nước CHXHCN Việt Nam (2/9/1945 -2/9/2011) và 57 năm ngày Giải phóng Thủ đô (10/10/1954 - 10/10/2011).
Sau 6 tháng phát động, BTC cuộc thi và triển lãm ảnh đã nhận được 2012 tác phẩm (trong đó có 147 ảnh đen trắng và 1865 ảnh màu) của 282 tác giả từ 38 tỉnh, thành phố gửi đến tham dự. Từ ngày 20 - 22/7/2011, qua các vòng chấm chọn, Hội đồng Nghệ thuật đã chọn được 206 tác phẩm để triển lãm, trong đó có 16 tác phẩm được trao giải.
Ngày 28/7/2011, tại Hà Nội đã diễn ra cuộc họp báo công bố kết quả cuộc thi và tổ chức triển lãm ảnh nghệ thuật “Các Di sản Thế giới của Việt Nam” 2011.
Bây giờ chúng ta cùng ngắm Việt Nam qua các tác phẩm đoạt giải nhé!
Báu vật nhân văn sống (Tác giả: Trần Việt Văn – Giải Nhất)
Hoàng hôn Lang Biang (Tác giả: Trần Thiết Dũng – giải Nhì)
Bức tranh phố Hội (Tác giả: Ông Văn Sinh – giải Nhì)
Nhịp nhàng Bơ Thi (Tác giả: Nguyễn Linh Vinh – giải Ba)
Cửa Đoan Môn ngày lễ rước Bằng chứng nhận Di sản Thế giới (Tác giả: Nguyễn Vinh Hiển – giải Ba)
Lán bè (Tác giả Nguyễn Hữu Nguyên – giải Ba)
Ẩn mình với thời gian (Tác giả: Lê Trọng Khang – giải Khuyến khích)
Quá khứ một triều đại (Tác giả: Nguyễn Quang Tuấn – giải Khuyến khích)
Lễ Hội Phù Đổng Thiên Vương (Tác giả: Trần Nhân Quyền – giải Khuyến khích)
Dáng xưa (Tác giả Thái Tuấn Kiệt – giải Khuyến khích)
Sương sớm (Tác giả Trương Vững – giải Khuyến khích)
Cồng chiêng Tây Nguyên (Tác giả: Ngô Đức Cần - giải Khuyến khích)
Ra khơi (Tác giả: Nguyễn Thành Vương – giải Khuyến khích)
Chùa Cầu (Tác giả Đoàn Thi Thơ – giải Khuyến khích)
Trước Hội (Tác giả: Bùi Quang Thuần – giải Khuyến khích)
Múa lục cúng hoa đăng (Tác giả: Võ Bảy – giải Khuyến khích)
Việt Nam của chúng ta thật đẹp phải không các bạn?
Ghé thăm các khu Văn Miếu đáng tự hào của đất nước
Không chỉ có Hà Nội mới có Văn Miếu đâu các bạn nhé!
Đây chính là những di sản văn hóa quan trọng và lưu giữ nhiều nét đẹp lịch sử truyền thống của cả nước đấy các bạn ạ.
Chúng ta cùng tham quan những Văn Miếu nổi tiếng ở nước ta để hiểu thêm về giá trị văn hóa đa dạng, tốt đẹp của đất nước chúng mình nhé!
1. Văn Miếu – Quốc Tử Giám (còn gọi là Văn Miếu Thăng Long - Hà Nội)
Có lẽ ai trong chúng ta cũng đều biết về quần thể di tích văn hóa, lịch sử độc đáo nhất của Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung này đúng không các bạn?
Khuê Văn Các –
Thiên quang tĩnh, nơi giao hòa của đất trời. Đây chính là biểu tượng cho
truyền thống hiếu học của cả nước đấy các bạn.
Văn Miếu được vua Lý Thánh Tông cho xây dựng tháng
10/1070 để thờ Khổng Tử, các bậc Tiên thánh, Tiên sư của Nho học. Năm
1076, Lý Nhân Tông (con trai vua Lý Thánh Tông) cho lập trường Quốc Tử
Giám ở bên cạnh Văn Miếu, có thể coi đây là trường Đại học đầu tiên ở
Việt Nam.
Văn Miếu Môn, cổng dẫn vào khu thứ nhất.
Hiện nay, Văn miếu – Quốc Tử Giám được xem như là
biểu tượng của tri thức, của nền giáo dục Việt Nam. Ngoài các bậc Tiên
thánh, Tiên sư của đạo Nho, ở đây còn ghi dấu Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu
Văn An – người thầy tiêu biểu về đạo cao, đức trọng của nền giáo dục
Việt Nam.
Thiên Quang Tĩnh
Quần thể kiến trúc Văn Miếu – Quốc Tử Giám có diện
tích 54.331m2 bao gồm: hồ Văn, khu Văn Miếu – Quốc Tử Giám và vườn Giám.
Dĩ nhiên, tiêu biểu và quan trọng nhất là Văn Miếu, nơi thờ Khổng Tử và
Quốc Tử Giám - Trường Đại học đầu tiên của Việt Nam. Tọa lạc, ở phía
Nam thành Thăng Long, Hà Nội. Cổng chính là phố Quốc Tử Giám (phía Nam),
phía Bắc là phố Nguyễn Thái Học, phía Tây là phố Tôn Đức Thắng, phía
Đông là phố Văn Miếu.
Bia tiên sĩ trong Văn Miếu Quốc Tử Giám.
Ngày nay tại Văn Miếu, Khuê Văn Các (gác vẻ đẹp của
sao Khuê, chủ đề văn học) và 82 Bia Tiến sĩ (UNESCO công nhận là di sản
Ký ức nhân loại) được xem như là một nét kiến trúc, văn hóa, di sản
tiêu biểu nhất.
Các sĩ tử với truyền thống sờ bia tiến sĩ trước mỗi kỳ thi để cầu may mắn.
Khu Văn Miếu – Quốc Tử Giám hiện là nơi thu hút rất
đông sự tham quan của du khách trong và ngoài nước. Đồng thời cũng là
nơi khen tặng cho học sinh xuất sắc, các sân chơi tri thức (Gala chung
kết: Rung Chuông Vàng…) và còn là nơi tổ chức hội thơ hàng năm vào ngày
rằm tháng giêng. Đặc biệt, đây còn là nơi các sĩ tử đến “xin lộc”, “cầu
may” trước mỗi kỳ thi.
2. Văn Miếu Mao Điền (Hải Dương)
Văn Miếu Mao Điền – (Mao: cỏ lau, Điền: ruộng cấy, như vậy: Mao Điền là một vùng đất bằng phẳng có nhiều cỏ lau).
Đường vào Văn Miếu Mao Điền rợp màu xanh của lúa. Một khung cảnh đẹp lunh linh như tranh thủy mặc ấy đúng không các bạn?
Di tích lịch sử cấp Quốc gia (công nhận xếp hạng năm 1992). Văn Miếu được xây dựng từ thời Lê Sơ (Thế kỉ XV) tại làng Mậu Tài, xã Cẩm Điền, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.
Cổng Văn Miếu.
Văn Miếu được hợp nhất với trường thi Hương của
tỉnh Hải Dương (nay là Văn miếu Mao Điền và cánh đồng Tràng) vào thời
Tây Sơn (1788 – 1802). Công trình rộng 3,6 ha này được xây dựng theo
hướng Nam gồm các hạng mục: Bái đường, Hậu cung mỗi toà 7 gian, xây theo
kiểu chữ Nhị, Đông vu, Tây vu, gác Khuê văn, gác Chuông, gác Khánh, đài
Nghiên, tháp Bút, Nghi môn, Thiên Quang tinh và Khải thánh thờ thân Phụ
và thân Mẫu của Khổng Tử.
Toàn cảnh Văn Miếu Mao Điền.
Hiện nay Văn Miếu Mao Điền dùng để thờ Khổng Tử và
các bậc đại nho theo truyền thống của Việt Nam, Trung Quốc và một số
nước Đông Á khác. Hàng năm, từ xưa đến nay, trấn Hải Dương đều tổ chức
lễ tế Khổng Tử, các quan đầu trấn, đầu phủ cùng cử nhân, tiến sỹ về làm
lễ trọng thể, nêu cao truyền thống hiếu học của tỉnh.
Cầu đá dẫn vào Văn Miếu.
Văn miếu và trường thi Hương trấn Hải Dương từng có
một lịch sử vẻ vang. Tại đây đã đào tạo hàng ngàn cử nhân, tiến sỹ nho
học đứng vào hàng đầu cả nước. Nếu chỉ tính số người đỗ Đại khoa trong
185 kỳ thi (từ năm 1075 – năm 1919), cả nước có 2.898 tiến sỹ thì trấn
Hải Dương có 637 vị, trong số 46 Trạng nguyên, Hải Dương có l2 người.
Ngay giữa sân có sự hiện diện của cây gạo cổ thụ, tương xứng với giá trị mà Văn Miếu đã lưu giữ qua thời gian.
Đặc biệt, trong kì thi Ất Mùi năm Đại Chinh thứ 6
(năm 1535), trấn Hải Dương có Nguyễn Bỉnh Khiêm, người nổi tiếng Thủ
khoa cả ba kỳ thi: Hương - Hội - Đình, được triều đình phong tặng Trạng
nguyên.
Khung cảnh như chốn bồng tiên ấy nhỉ?
Rất đông du khách đến viếng Văn Miếu vào các dịp lễ hội hàng năm.
Văn miếu Mao Điền hiện nay chính là niềm tự hào về quá khứ vẻ vang, nơi đại diện cho tri thức và tinh thần hiếu học của tỉnh Hải Dương. Không chỉ thế, nơi đây còn thu hút rất đông khách du lịch đến tham quan hàng năm.
3. Văn Miếu Bắc Ninh
Đây chính là nơi lưu giữ đầy đủ, rõ nét nhất về lịch sử khoa bảng vẻ vang của xứ Kinh Bắc.
Một góc Văn Miếu
Văn Miếu Bắc Ninh được xây dựng từ thời Lê Sơ ở núi
Châu Sơn, huyện Thị Cầu. Sau nhiều lần sửa chữa, tu bổ, năm 1884 văn
miếu được xây dựng lại, năm 1893 được chuyển về vị trí hiện nay (xóm 10,
Đại Phúc, Bắc Ninh).
Bức bình phong hàng trăm năm tuổi: “Bắc Ninh tỉnh trùng tu Văn Miếu bi ký” dựng năm 1928.
Văn Miếu Bắc Ninh là nơi thờ Khổng Tử, Tứ Phối và 12 tấm bia lưu giữ khoa danh của 677 vị tiến sĩ quê hương Kinh Bắc xưa.
Bàn thờ bên trong nhà Tiền tế.
Kiến trúc Văn Miếu gồm: Tiền Tế (5 gian), Hậu Đường
(5 gian) hai bên hồi Hậu Đường là Bi Đình (3 gian), hai bên hồi Tiền
Đường là Hội Đồng trị sự và Tạo Soạn; hai bên sân trước Tiền Tế là nhà
Tả Vu, Hữu Vu. Chính diện có bia bình phong “Bắc Ninh tỉnh trùng tu Văn Miếu bi ký” khắc dựng năm 1928. Toàn bộ công trình được xây dựng bằng gỗ lim được bào trơn đóng bén rất tinh tế và cổ kính.
Nét kiến trúc đơn sơ, bình dị và gần gũi với: ngói đỏ, gạch đá và cây xanh trong Văn Miếu.
Người Bắc Ninh có quyền tự hào với làn điệu Quan họ
(Di sản văn hóa thế giới - 2009) thì cũng sẽ chẳng bao giờ quên truyền
thống hiếu học qua bao đời. Văn Miếu Bắc Ninh chính là đại diện tiêu
biểu nhất cho giá trị truyền thống và sự học vẻ vang của miền đất văn
hiến này.
4. Văn Miếu Xích Đằng (Văn Miếu Hưng Yên)
Nằm cạnh con sông Hồng quanh năm đỏ nặng phù sa,
văn miếu Xích Đằng được biết đến là một di tích quan trọng nằm trong
quần thể di tích Phố Hiến, thuộc làng (thôn) Xích Đằng, phường Lam Sơn,
thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.
Lối vào Văn Miếu, hai bên là hai hàng cây xanh.
Được xây dựng vào năm 1832, với hàng trăm năm tồn
tại cùng với những thăng trầm của thời gian. Nơi đây vẫn chính là hồng
quang đại diện cho tri thức, sự uyên bác mà các thế hệ người con Hưng
Yên luôn ghi nhớ với 161 vị đại khoa được lưu danh bảng vàng.
Nghi môn Văn Miếu Xích Đằng.
Văn Miếu Xích Đằng trước đây là nơi tổ chức các kỳ
thi của trấn Hưng Yên. Hiện tại Miếu đang thờ hai pho tượng của Đức
Khổng Tử và các bậc chư hiền nho gia. Cùng với đó là pho tượng của người
thầy giáo lỗi lạc, người hiệu trưởng đầu tiên của văn miếu Quốc Tử
Giám: Chu Văn An.
Hữu Vu bên trong Văn Miếu.
Cổng Nghi Môn của Văn Miếu Xích Đằng là một trong
những công trình còn giữ được những nét kiến trúc độc đáo trong các văn
miếu còn lại ở Việt Nam. Được dựng theo lối kiến trúc chồng diêm, hai
tầng tám mái có lầu gác.
Một trong chín bia đá lưu danh các vị đại khoa bên trong khu Nội tự.
Khu nội tự có mặt chính quay về hướng Nam, được
thiết kế theo kiểu chữ “Tam”: gồm Tiền tế, Trung từ và Hậu cung. Hệ
thống mái được kết cấu theo kiểu “trùng thiềm địa ốc”.
Khánh đá độc đáo.
Đặc biệt hơn, tại Văn Miếu Xích Đằng có thiết kế
lầu chuông (Rất hiếm thấy trong các Văn Miếu tại Việt Nam). Tiếng chuông
và tiếng khánh chính là âm thanh báo hiệu thời gian cho các kỳ thi
trước đây. Đồng thời ngày nay, nó chính là tiếng tri ân, bày tỏ lòng
thành kính đối với các bậc hiền tài, nho sĩ trong các dịp lễ hội.
Nhà tiền tế của Văn Miếu Xích Đằng, với dáng vẻ rất mộc mạc và đậm nét Nho gia.
Hằng năm, khi mùa xuân về, tại Văn Miếu tổ chức rất
nhiều các hoạt động giao lưu, sinh hoạt văn hóa, lễ hội truyền thống.
Đây cũng là dịp mà người con Hưng Yên nói riêng và các du khách thập
phương kéo về dự hội tại Xích Đằng rất nhộn nhịp.
5. Văn Miếu Trấn Biên (Đồng Nai)
Đối
với người dân Trấn Biên, họ cũng xây cho riêng cho mình một Văn Miếu để
tiếp nối truyền thống hiếu học, nơi lưu danh các bậc hiền tài của đất
nước. Văn Miếu Trấn Biên được xem như “Quốc Tử Giám” của Nam Bộ.
Văn
Miếu Trấn Biên được xây dựng vào đời vua Hiển Tông năm Ất Vị thứ 25
(tức năm 1715). Công trình được Trấn thủ Nguyễn Phan Long và Ký Lục Phạm
Khánh Đức cho xây dựng tại thôn Bình Thành và Tân Lại, tổng Phước Vĩnh
(nay là phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa, Đồng Nai).
Theo
sách "Ðại Nam nhất thống chí" của Quốc sử quán triều Nguyễn miêu tả,
Văn Miếu Trấn Biên được ghi nhận là Văn Miếu được xây dựng sớm nhất ở
miền Nam (mặc dù ra đời sau Văn Miếu Quốc Tử Giám hơn 700 năm). Văn Miếu
Trấn Biên thờ Khổng Tử, các bậc vĩ nhân, danh nhân văn hóa, giáo dục
của đất nước, đặc biệt là các nhân sĩ, hào kiệt phía Nam.
Gắn
liền với Văn Miếu Trấn Biên là một nền giáo dục phát triển, nơi đã sinh
ra nhiều danh nhân làm rạng rỡ miền đất phương Nam như: Võ Trường Toản,
Trịnh Hoài Ðức, Nguyễn Ðình Chiểu, Ngô Nhân Tịnh và Lê Quang Ðịnh.
Khi
quân Pháp đánh chiếm Biên Hòa năm 1861, chúng đã phá hủy hoàn toàn Văn
Miếu Trấn Biên nhằm dập tắt tinh thần yêu nước của người dân Nam Bộ. Văn
Miếu Trấn Biên bị hủy hoại sau 146 năm tồn tại.
Ngày
09/12/1998, Văn Miếu Trấn Biên được khởi công khôi phục lại trên nền
Văn Miếu cũ với số tiền đầu tư gần 20 tỷ đồng. Văn Miếu Trấn Biên hiện
nay sừng sững, uy nghi tọa lạc trên diện tích rộng 20.000m2 tại phường
Bửu Long, TP Biên Hòa, tỉnh Ðồng Nai.
Nổi
bật trong kiến trúc Văn Miếu là những vòm mái cong, lợp ngói lưu ly màu
xanh ngọc bằng gốm tráng men, có lầu bia uy nghi tráng lệ. Từ cổng vào
là nhà bia, Khuê Văn Các, hồ Tịnh Quang, cổng Tam quan, nhà bia thứ hai
và nhà thờ chính. Đặc biệt, bia Tiến sĩ được khắc bằng đá xanh với câu
nói nổi tiếng của Thân Nhân Trung: "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia".
Nhà
thờ chính xây dựng kiểu nhà ba gian hai chái, theo kiến trúc cổ: Đặt
bàn thờ Bác Hồ ở gian giữa, trên tường có biểu tượng trống đồng tượng
trưng cho nền văn hóa Việt Nam và Quốc Tổ Hùng Vương. Trong gian thờ
chính có trưng bày 18kg đất và 18 lít nước mang về từ đền Hùng, biểu
trưng cho 18 đời Vua Hùng, cội nguồn của dân tộc.
Văn Miếu khi về đêm.
Trong
Văn Miếu Trấn Biên thì đặt bàn thờ đức Khổng Tử, bàn thờ Quốc tổ và
Lịch đại đế vương. Gian bên trái thờ các danh nhân Chu Văn An, Nguyễn
Trãi và Lê Quý Ðôn. Gian bên phải thờ Võ Trường Toản, Ðặng Ðức Thuật và
ba vị anh hào "Gia Ðịnh tam kiệt": Trịnh Hoài Ðức, Ngô Nhân Tịnh, Lê
Quang Ðịnh.
Phía trước nhà thờ chính còn có hai ngôi miếu, miếu bên trái thờ Tiên sư, miếu bên phải thờ Tiền hiền - Hậu hiền.
Văn
Miếu Trấn Biến là nơi bảo tồn, gìn giữ, tôn vinh các giá trị văn hóa –
giáo dục từ xưa đến nay của Nam Bộ nói riêng và của cả nước nói chung.
Hàng ngày có rất nhiều các bạn trẻ và du khách thường xuyên tham quan và
viếng lễ tại Văn Miếu.
6. Văn Miếu Huế
Văn Miếu Huế hay Văn Thánh Huế là cách gọi tắt tên Văn Thánh Miếu được xây dựng tại Cố đô của chúng ta.
Trước
đây, các chúa Nguyễn đã xây dựng Văn Miếu tại thủ phủ rồi đã thay đổi
vị trí qua ba địa điểm khác nhau: làng Triều Sơn, làng Lương Quán, làng
Long Hồ. Năm
1808, dưới triều vua Gia Long, Văn Miếu Huế được xây dựng ở địa điểm
hiện nay. Ngôi miếu cũ được giữ lại để làm Khải Thánh Từ (miếu thờ cha,
mẹ Khổng Tử).
Văn
Miếu được xây dựng uy nghi, đồ sộ, nằm bên bờ sông Hương thuộc địa phận
thôn An Bình, làng An Ninh, phía Tây Kinh thành Phú Xuân cũ. Văn Miếu
quay mặt về hướng Nam.
Toàn
bộ kiến trúc chính của Văn Miếu đều được dựng trên ngọn đồi cao gần 3m
so với nền đất xung quanh, trước mặt là sông Hương, phía sau là làng
mạc, núi đồi. Các công trình của Văn Miếu được xây dựng trong mặt bằng
hình vuông: mỗi cạnh chừng 160m, xung quanh xây la thành bao bọc. Tất cả
có 50 công trình kiến trúc lớn nhỏ, đặc biệt là 32 tấm bia tiến sỹ và 4
tấm bia khác.
Từ
cổng Đại Thành Môn vào bên trong, chính giữa Văn Miếu là Đại Thành Điện
thờ Khổng Tử. Đại Thành Điện là kiến trúc trọng yếu của Văn Miếu, toàn
bộ được xây dựng trên một nền cao, dài chừng 32m, rộng 25m. Cấu trúc của
đại điện phỏng theo lối trùng thiềm điệp ốc truyền thống của Huế. Hai
bên trước điện Đại Thành dựng hai ngôi nhà đối diện nhau là Đông Vu và
Tây Vu. Cả hai ngôi đều có bảy gian để thờ thất thập nhị hiền và các
tiên nho.
Trước
sân miếu có hai nhà bia, bia bên phải khắc văn bia của Thánh Tổ Nhân
Hoàng đế (vua Minh Mạng), bia bên trái khắc bài văn bia của Hiến Tổ
Chương Hoàng đế (vua Thiệu Trị).
Ngoài
cổng Đại Thành Văn Miếu, bên trái có Hữu Văn Đường, bên phải có Dị Lễ
Đường, là những ngôi nhà kiểu một gian hai chái dùng để vua quan nghỉ
chân sửa soạn lễ phục trước khi vào tế ở Miếu.
Đặc
biệt hơn, phía trước là hai dãy bia gồm 32 tấm bia, khắc tên 293 vị
Tiến sỹ thi đỗ trong 39 kỳ thi Hội, thi Đình tổ chức dưới triều Nguyễn.
Ngoài
ra, Văn Miếu còn có các công trình khác như: Thần trù (nhà bếp), Thần
khố (nhà kho), Đại Thành môn, Văn Miếu môn... Các tòa nhà đều được xây
dựng bằng gỗ lim, kiến trúc, trang trí đăng đối, uy nghi.
Những tấm bia Tiến sỹ thời Nguyễn đang được lưu giữ tại đây
Hiện
nay cùng với một số Văn Miếu lớn của cả nước như: Quốc Tử Giám, Trấn
Biên (Đồng Nai)… Văn Miếu Huế chính là lưu giữ những minh chứng về sự
nghiệp giáo dục của cả nước. Cùng với đó là giá trị truyền thống nhân
văn của người Việt Nam ta luôn được gìn giữ và phát huy từ xưa đến nay.
Văn
Miếu đã trở thành một điểm đến tham quan của rất đông du khách trong và
ngoài nước, đặc biệt là các bạn trẻ với mong muốn được lưu danh bảng
vàng như những danh sĩ đã được khắc tên tại các bia Tiến sĩ ở Văn Miếu.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)