Thứ Sáu, 18 tháng 5, 2012

Chiêm ngưỡng khách sạn băng ở Thụy Điển

Khách sạn ở làng Jukkasjarvi, Thụy Điển, đang là điểm dừng chân thú vị của những người ưa thích thời tiết lạnh giá và các công trình kiến trúc bằng băng.Ngay khi mùa đông gõ cửa lục địa già, các nhóm kiến trúc sư, nhà thiết kế và công nhân từ nhiều nơi trên thế giới lại tụ họp tại ngôi làng lạnh giá Jukkasjarvi, Thụy Điển, để bắt tay vào việc xây dựng khách sạn băng.Dự kiến, nó sẽ được mở cửa đến giữa tháng 4/2009 - khi khách sạn bắt đầu tan chảy do thời tiết ấm lên. Nhiệt độ bên trong tòa nhà độc đáo này thường từ -5 đến -8 độ C. Đây cũng là một trong những khách sạn lạnh nhất thế giới.
Chiêm ngưỡng khách sạn băng ở Thụy Điển
Khách sạn ở làng Jukkasjarvi, Thụy Điển, đang là điểm dừng chân thú vị của những người ưa thích thời tiết lạnh giá và các công trình kiến trúc bằng băng.

Ngay khi mùa đông gõ cửa lục địa già, các nhóm kiến trúc sư, nhà thiết kế và công nhân từ nhiều nơi trên thế giới lại tụ họp tại ngôi làng lạnh giá Jukkasjarvi, Thụy Điển, để bắt tay vào việc xây dựng khách sạn băng.
Dự kiến, nó sẽ được mở cửa đến giữa tháng 4/2009 - khi khách sạn bắt đầu tan chảy do thời tiết ấm lên. Nhiệt độ bên trong tòa nhà độc đáo này thường từ -5 đến -8 độ C. Đây cũng là một trong những khách sạn lạnh nhất thế giới.
Quang cảnh bên ngoài khách sạn băng.
Khu vực hành lang của khách sạn với những hàng cột được chạm khắc và thiết kế tinh xảo từ các khối băng. 
Du khách đi thăm một căn phòng đôi. Năm nay, khách sạn có 91 phòng phục vụ khách và nó được xây dựng lại hàng năm. 
Cận cảnh chiếc giường đặc biệt làm từ băng với lớp đệm bẳng da tuần lộc. 
Để có thể qua đêm tại khách sạn này du khách phải trả ít nhất 200 USD và sẽ nhận được một túi ngủ giữ nhiệt. 
Các món ăn tại đây cũng được phục vụ trong những chiếc bát đặc biệt.
Một tác phẩm nghệ thuật bên trong khách sạn. 
Đôi tình nhân Thụy Điển chụp ảnh lưu niệm sau lễ cưới. Mỗi năm Jukkasjarvi đón chào khoảng 150 cặp uyên ương đến để thành hôn tại thánh đường băng của khách sạn.
Một cô dâu chụp ảnh lưu niệm tại khách sạn băng. 

Khách sạn nhà tù ở Đức

Khách sạn Alcatraz ở thành phố Kaiserslautern, tây nam Đức, đang mở cửa chào đón những khách hàng muốn trải nghiệm cảm giác sống trong tù với song sắt và dây xích khắp nơi.
Khách sạn nhà tù ở Đức
Khách sạn Alcatraz ở thành phố Kaiserslautern, tây nam Đức, đang mở cửa chào đón những khách hàng muốn trải nghiệm cảm giác sống trong tù với song sắt và dây xích khắp nơi.

Được cải tạo trên nền một nhà tù cũ có từ năm 1867, khách sạn có 57 phòng "tù nhân", với hệ thống cửa thép nặng nề. Trên ảnh là một nhân viên tại quầy lễ tân của khách sạn.
Du khách đến đây sẽ có cảm giác an toàn tuyệt đối khi thưởng thức đồ uống tại quán bar nằm sau song sắt.
Hai quý bà nâng cốc trong "lồng sắt" của khách sạn.
Phòng số 312 nhìn qua ô cửa bé xíu đặc trưng của nhà giam.
Nội thất mỗi phòng trong khách sạn Alcatraz gồm chiếc giường sắt nhà tù nguyên bản và khu vệ sinh liền kề. Nhưng khác với phòng giam thật là chăn nệm ở đây tinh tươm sạch sẽ, sàn lát gỗ và có cả mạng Internet.
Khách hàng có thể đề nghị thuê một bộ quần áo sọc được thiết kế đặc biệt cho giống cảnh trong tù.
Một nữ khách hàng muốn có cảm giác đi tù đang làm vệ sinh cá nhân trong phòng khách sạn.
Đồ ăn và nước uống được phục vụ qua lỗ nhỏ trên cửa chính giống như nhà tù thật.

Những điểm đến yên tĩnh nhất thế giới

Thoát khỏi không khí ồn ào, náo nhiệt của những thành phố công nghiệp, bạn thả mình với cuộc sống thiên nhiên tự do êm ả, thanh bình.
Những điểm đến yên tĩnh nhất thế giới
Thoát khỏi không khí ồn ào, náo nhiệt của những thành phố công nghiệp, bạn thả mình với cuộc sống thiên nhiên tự do êm ả, thanh bình.
Thung lũng Hoh thuộc công viên quốc gia Olympic, thành phố Washington, Mỹ.
Grand Canyon, Arizona.
Anzo-Borrego thuộc hệ thống công viên quốc gia bang California.
Hawai'i Volcanoes National Park, the Big Island, Hawaii
Công viên quốc gia ở Hawaii.
Công viên Woods, California.
Cape Cod (Massachusetts, Mỹ.
Mũi Cod, Massachusetts, Mỹ.
Vùng hồ Loch Lomond xinh đẹp thuộc Scotland.
Vùng hồ Loch Lomond xinh đẹp thuộc Scotland.
Sa mạc Gobi, Mông Cổ.
ệc
Sa mạc Kalahari.  
Thác Victoria, Zambia.
Thác Victoria, Zambia.

Vẻ đẹp Bắc Triều Tiên

Cùng đến thăm một số thắng cảnh của đất nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên
Vẻ đẹp Bắc Triều Tiên 
Cùng đến thăm một số thắng cảnh của đất nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên
Viện nghiên cứu nhân dân tối cao, là thư viện quốc gia của thủ đô Bình Nhưỡng, nơi lưu trữ hàng triệu đầu sách các loại.
Đài tưởng niệm Mansudae, có chiều cao 22,5m với những tác phẩm điêu khắc bằng đá tinh vi.
Quảng trường Kim Nhật Thành.
Khải Hoàn Môn của Bình Nhưỡng.
Khu vực phi quân sự DMZ ở Bình Nhưỡng, nằm giữa biên giới hai nước Hàn Quốc và Bắc Triều Tiên.
Sân vận động May Day.
Hành trình du lịch tới những khu làng.  
Một công trình kiến trúc lấy hình tượng người phụ nữ Hàn Quốc mặc áo truyền thồng.
Con tàu USS
Con tàu USS của hải quân Mỹ tại Bình Nhưỡng.

Ngôi chùa huyền bí trong lòng tượng Phật

Nằm cách Hà Nội đúng 100km theo hướng Quốc lộ 3, trong khu du lịch huyền thoại Hồ Núi Cốc (huyện Đại Từ, Thái Nguyên) là một chốn thiền thanh tịnh với ngôi chùa có cấu trúc rất độc đáo. Đó chính là chùa Thiêng Thác Vàng.

Toàn bộ khu chính điện, tam quan, tam bảo, nhà thờ tổ nằm dưới đài sen tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni khổng lồ. Ở đây pho tượng có mầu vàng óng, cao 45m, đường kính chiều ngang của đài sen rộng 37m, sừng sững giữa núi rừng, hướng mặt ra Hồ Núi Cốc.

Điều đặc biệt nhất về chùa Thiêng Thác Vàng chính là nghệ thuật điêu khắc với những bức tượng, phù điêu gắn trên tường.

Ngay khi đặt chân tới bên chùa chúng ta đã bắt gặp những bức tượng phù điêu khổng lồ gắn vào tường mô tả về những vị Thần, Diêm La, Địa Sát đứng bảo vệ,  rất lạ mắt và độc đáo.

Vẻ đẹp của Phật Giáo thể hiện ngay ở bức phù điêu trên tường mà du khách sau khi đi vào cổng chùa. Ở đây Đức Phật tọa trên đài sen tỏa ánh hào quang nhìn về cảnh chùa, cảnh núi, sông, non nước.

Với những yếu tố trên, khách thập phương sau khi bước qua cửa chùa sẽ như được lạc vào chốn hang động lung linh huyền ảo, bồng lai tiên cảnh. Mọi người sẽ đi lên từng tầng của ngôi chùa theo đường xoáy trôn ốc rất độc đáo.

Ngay ở tầng 1, mọi người sẽ ngỡ ngàng trước vẻ đẹp nhuốm màu Phật Giáo thể hiện qua những bức phù điêu khổng lồ trên tường, chạy dọc theo các suối nước nhân tạo nước chảy róc rác.
Mỗi bức phù điêu có diện tích 25-30m2 thể hiện một triết lí Phật Giáo trong thuyết Nhân Quả. Với hình tượng Đức Phật, cảnh chùa cùng núi non, sông nước chính là những nét phác họa chủ đạo trong các bức phù điêu này...

Công trình Thuyết Nhân Quả khắc trên tường ở chùa Thiêng Thác Vàng có tổng diện tích 5.000m2. Để hoàn thành công trình này, Tỉnh hội Phật giáo Thái Nguyễn đã phải thuê những nghệ nhân tài hoa nhất trong điêu khắc tranh trên tường ở khắp cả nước về hợp sức làm trong suốt 2 năm ròng.

Tô điểm cho cảnh quanh chùa Thiêng Thác Vàng là những búp, lá sen khổng lồ cao 4-5m bên hành lang lối đi từ tầng 1 lên tầng 2. Lạc vào chốn linh thiêng, vừa hành lễ, mọi người vừa được nghe một truyền thuyết huyền thoại.

Truyền thuyến kể rằng: “Ngày xửa ngày xưa, ở nơi đây có đôi vợ chồng trẻ bền gan, vững chí, bám trụ lại làng khi xảy ra thiên tai, địch họa để giúp đỡ người dân qua cơn nguy kịch…

Rồi một hôm trời nổi cơn giông cây cối, rừng núi rung chuyển. Trong cơn giông ấy, người ta nghe thấy tiếng tụng kinh gõ mõ của đôi vợ chồng trẻ. Tan cơn giông, dân làng không thấy đôi vợ chồng trẻ đâu nữa, trên đỉnh núi Thác Vàng, người ta thấy ánh hào quang tỏa ra rực rỡ, hiện ra Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đang ngự tọa trên đài sen nhìn về phía Hồ Núi Cốc…

Với lối kiến trúc độc đáo của ngôi chùa nằm trong lòng pho tượng Phật lớn đã lôi cuốn khá đông người hành hương về chùa lễ Phật.

Chính ở nơi đấy, người dân cho lập một ngôi chùa lớn, mang tên chùa Thiêng Thác Vàng. Đến năm 2011, ngôi chùa thiêng Thác Vàng độc đáo trên đã chính thức được khánh thành với tổng mức đầu tư lên đến hàng trăm tỷ đồng.

Kết thúc một vòng quanh chùa thiêng Thác Vàng độc đáo và huyền bí, mọi người sẽ về bên gốc đa khổng lồ trong sân hóng mát, tránh cái nắng hè oi ả.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Datviet, Honuicoc.net

Phu thê - món ngon Kinh Bắc

Phu thê là tên một loại bánh đặc sản nổi tiếng của làng Ðình Bảng thuộc huyện Tiên Sơn tỉnh Bắc Ninh. Tên gọi này gắn liền với câu chuyện kể về vợ chồng người lái buôn thuở xưa. 

Chuyện kể rằng, trước lúc người chồng lên đường đi buôn ở phương xa, người vợ làm bánh tặng chồng và thề rằng cho dù xa nhau nhưng lòng nàng vẫn luôn ngọt ngào, đậm đà như bánh. Chồng cảm động đặt tên cho bánh là phu thê (tức bánh vợ chồng). Chẳng ngờ đến phương xa, người chồng bị say đắm bởi sắc đẹp của các cô gái lạ và không muốn quay về.
Người vợ ở nhà biết tin liền làm bánh gởi cho chồng lèm theo lời nhắn:
"Từ ngày chàng bước xuống ghe
Sóng bao nhiêu đợt bánh phu thê rầu bấy nhiêu".

Nhận được bánh và lời nhắn của vợ, người chồng hối hận liền tức tốc quay về và không còn nghĩ đến chuyện thay lòng đổi dạ nữa. Từ đó bánh phu thê thường hay có mặt trong các tiệc cưới nhằm nhắn nhủ lời thuỷ chung đến các đôi vợ chồng trẻ.

Bánh phu thê muốn ngon và đẹp mắt thì người làm bánh phải khắt khe từ khâu chọn lọc nguyên liệu đến chế biến thành phẩm.

Gạo được dùng để làm vỏ bánh phải là gạo nếp cái hoa vàng hạt mẩy, đều. Sau đó, gạo được ngâm và đem ra xay, lọc thật kỹ. Để có được một cân bột làm bánh phải cần đến hai cân gạo. Chính vì vậy, xưa kia phu thê là loại bánh sang trọng chỉ các bậc vua chúa, quan lại mới được thưởng thức. Khi lọc bột người làm bánh dùng lá Ong Vang giã lấy nước, đánh vào bột đã được xay nhuyễn, chờ đến khi bột nổi tinh ta vớt lấy tinh bột lọc.

Một công đoạn nữa cũng rất quan trọng khi làm bột bánh là quá trình phơi khô bột. Việc phơi bột tùy thuộc vào thời tiết, dưới điều kiện thời tiết có nắng và có gió thì chỉ cần phơi bột trong vòng hai ngày là đủ. Vì vậy, việc làm bột thường được tiến hành từ tháng 9 đến tháng 12 (lúc này thời tiết thuận lợi cho việc phơi bột). Bột phơi được nắng sẽ có màu sắc và mùi vị thơm ngon hơn hẳn so với bột phơi thiếu nắng hoặc được sấy trên bếp.

Vỏ bánh phu thê muốn dẻo và dai còn cần có thêm đu đủ xanh được nạo nhỏ và ngâm phèn cho hết nhựa. Hai thứ nguyên liệu đó được trộn đều với đường trắng theo những tỷ lệ nhất định và nước quả Dành Dành sẽ tạo ra được lớp vỏ bánh vừa dẻo, vừa dai lại có màu sắc rất bắt mắt.

Công đoạn làm vỏ bánh cầu kỳ là vậy nhưng khâu làm nhân bánh cũng rất tốn công. Nhân bánh phu thê là sự kết hợp giữa đậu xanh, đường trắng, dừa tươi và hạt sen.

Nhân bánh muốn ngon thì tất cả các nguyên liệu làm nhân bánh cũng phải là những loại hảo hạng. Đậu xanh phải là loại đỗ hạt nhỏ, ruột có màu vàng óng. Đậu xanh sau khi được ngâm, đãi kỹ càng sẽ được đem đồ chín cho đến khi hạt đỗ nở ra, căng bóng nhưng vẫn không bị nát và hạt đỗ bở vụn giữa hai đầu ngón tay là đạt. Sau đó, đậu sẽ được giã nhỏ ra cho thật mịn, rồi đem quấy thật dẻo với đường trắng tạo ra một thứ chè kho ngon tuyệt.
Tương tự, hạt sen cũng được luộc chín, để ráo nước, giã nhuyễn và được trộn đều với đậu xanh và dừa bánh tẻ đã được nạo nhỏ. Để nhân bánh có mùi thơm có thể cho thêm một chút dầu chuối.

Lá gói bánh là lá dong, sau khi rửa sạch lá để ráo nước người ta phải tước cọng thật kỹ để khi gói bánh được mềm mại. Lá lót trong là lá chuối tây được rửa sạch, luộc chín và hong khô. Khi làm bánh, người làm còn quét lên lá một lớp mỡ hoặc dầu để khi bóc bánh không bị dính, lại làm cho bánh có độ ngậy và béo rất đặc trưng.

Bánh luộc chín tỏa mùi thơm ngon hấp dẫn, làm nao lòng những vị khách phương xa. Bánh phu thê là loại bánh phải ăn khi nguội ta mới cảm nhận hết được độ dẻo, dai và giòn của vỏ bánh. Tiếp đến là mùi vị thơm ngon béo ngậy của đậu xanh, hạt sen và dừa tươi trong nhân bánh.

Nhưng khi được thưởng thức lúc bánh vẫn còn nóng nhất là trong tiết trời se lạnh của mùa đông, vị thơm, ngọt, bùi của hạt sen, đậu xanh và dừa tươi như tan ra trong miệng đánh thức tất cả các giác quan của bạn, đó cũng coi như ta đã cảm nhận được hết hương vị của bánh.

Du lịch, GO! - Theo báo Du lịch, internet

Dạ cổ hoài lang: sức sống 90 năm

TT - Mới đó mà đã 90 năm kể từ khi nhạc sĩ Cao Văn Lầu viết Dạ cổ hoài lang. Đó cũng là chừng ấy năm bản vọng cổ cùng làm bạn tâm tình của bao thế hệ người dân Nam bộ. 90 năm qua, Dạ cổ hoài lang đã đi xa hơn khuôn khổ của một bản vọng cổ. Giờ đây, bài ca đang được đề xuất trở thành di sản phi vật thể quốc gia.
Kỳ 1: Bản nhạc lòng của tình yêu thời loạn
Nhạc sĩ Cao Văn Lầu năm 1960 - Ảnh tư liệu
Trong hành trình tìm lại những ngày đầu ra đời của Dạ cổ hoài lang, chúng tôi tìm về khu mộ của nhạc sĩ Cao Văn Lầu và vợ là bà Trần Thị Tấn nằm trang trọng trong khu di tích rộng lớn sắp được khánh thành tại thị xã Bạc Liêu. Cách đó không xa là nhà của ông Cao Văn Hoai - con trai thứ tư của ông Cao Văn Lầu. Chiều chiều, ông Tư Hoai vẫn thường ra mộ ba má để thắp nhang, hồi tưởng về những tháng ngày xưa cũ.
Chiếc áo rách vai
Trong những cuốn sổ tay hiệu Rafale, Igo vàng ố hiện được lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Bạc Liêu, bút tích của nhạc sĩ Cao Văn Lầu vẫn còn nguyên với thời gian.
Trong sổ, ông vừa ghi lại những bài bản được ký âm ngũ cung, vừa vẽ hình bàn tay trái bấm đờn của mình, vừa ghi tiền bán cua, bán me, vừa... ghi nợ: “Bà Rớt thiếu nửa can nước mắm chưa trả tiền... Dâu cô Năm thiếu hai trái dừa...”.
Cuốn sổ cũng là nơi ông dặn dò con cháu: “Thằng Hai chớ nên đánh vợ” hay thảo sẵn di chúc: “Khi ba mất, nhớ để ba nằm gần má tụi con ở phía mặt trời mọc. Nhớ tụng kinh nhiều nhiều cho ba má nghen”.
Ông Tư Hoai năm nay đã hơn 80 tuổi, những bức tường trong căn nhà nhỏ của ông treo chi chít hình ảnh, bằng khen, báo chí liên quan đến cha ông và bản nhạc Dạ cổ hoài lang bất hủ.
Ông tự hào nói: “Hồi đó ba tui thương tui nhứt đó. Tui cũng là người ở gần ba nhiều nhứt. Nhưng tội nghiệp ba tui lắm, ổng hiền lành, tình cảm mà cứ khổ hoài!”.
Cái sự “khổ hoài” mà ông Tư Hoai miêu tả chính là cái nghèo tiền bạc và trắc trở về tình cảm trong cuộc đời của cha ông. Nhạc sĩ Cao Văn Lầu đã lớn lên trong cảnh nghèo túng.
Nhưng được cái là: “Hồi đó ba tui đẹp trai lắm, trắng tươi à, lại hay mặc bộ bà ba trắng - ông Tư Hoai hào hứng kể - nên năm 20 tuổi ông đã chiếm được cảm tình của cô Hai Sang, con gái thầy đàn Nhạc Khị nổi tiếng trong vùng”.
Cũng theo lời ông Hoai, chuyện “tình trong như đã, mặt ngoài còn e” của họ kéo dài đến hai năm mà không ai dám bước tới. Hai người không đến được với nhau vì kỵ tuổi khiến ông Sáu Lầu đau khổ vô cùng. Cô Hai Sang sau đó cũng khép lòng lại, gần hai năm sau mới đi lấy chồng vì sự ép buộc của gia đình.
Ngày cưới của cô Hai Sang, ban nhạc tài tử của Cao Văn Lầu cũng được mời đến. Ông lòng đau như cắt. Mãi cho đến khi một bạn đồng môn trong lớp học nhạc đem xe tới ép rước đi thì ông mới miễn cưỡng đi mà không kịp thay áo. Ra đến đám tiệc, vì chiếc áo của mình bị rách bên vai nên ông cởi ra máng lên ghế rồi lo đờn ca, hát xướng phục vụ quan khách.
Lúc này cô Hai Sang ngồi trong phòng, nhìn thấy chiếc áo bà ba rách vai ấy mà khóc nức nở. Cô lặng lẽ lấy xuống vá lại nguyên vẹn. Rồi cô Hai Sang theo chồng. Chiếc áo vá vai trở thành vật kỷ niệm duy nhất còn lại, được ông trân trọng.
Hai người con còn sống của ông Cao Văn Lầu là ông Cao Văn Hoai và Cao Văn Bỉnh đều cho rằng chính kỷ niệm buồn của mối tình đầu đã là niềm cảm hứng cho ông sáng tác bài ca Chiếc áo rách vai.
Theo tài liệu của nhà văn Phan Trung Nghĩa, sau này khi ban nhạc tài tử của ông Sáu Lầu trở nên nổi tiếng, ông đứng ra tổ chức một đoàn nghệ sĩ cổ nhạc ca ra bộ được đông đảo khán giả mộ điệu ủng hộ.
Trong đoàn có cô Ba Phấn nổi tiếng xinh đẹp, dịu hiền lại có giọng ca ngọt ngào, truyền cảm. Giới địa chủ, công tử nhà giàu say mê cô Ba Phấn. Tuy nhiên, cô Ba Phấn chỉ dành tình cảm đằm thắm của mình cho ông Sáu Lầu. Chính điều này đã làm bọn công tử ghen ghét, tức giận. Một ngày nọ cô Ba Phấn bị bắt cóc, bị bóp cổ rồi bị vứt thi thể dưới chân cầu quay Bạc Liêu.
Phần mộ của vợ chồng nhạc sĩ Cao Văn Lầu bây giờ ở trong khu lưu niệm cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu - di tích lịch sử văn hóa - Ảnh: T.T.D.
Tình yêu son sắt
Chúng tôi tìm đến ngôi chùa Vĩnh Phước An, cũng không xa khu mộ và mảnh đất ngày xưa gia đình ông Sáu Lầu đã sống. Theo thầy trụ trì, hầu hết các tài liệu đều khẳng định chính tiếng trống đêm từ ngôi chùa này đã tác động sâu sắc vào tâm hồn nhạy cảm của Cao Văn Lầu, từ lúc còn bé cho đến khi trưởng thành và đóng vai trò là chất xúc tác để ông sáng tác bản Dạ cổ hoài lang.
Nghệ sĩ lão thành Lâm Tương Vân - người từng có nhiều dịp gặp gỡ nhạc sĩ Cao Văn Lầu - kể rằng qua hai cuộc tình dang dở, khổ đau và bất hạnh, ông Sáu Lầu đã nghe lời cha mẹ lấy cô thôn nữ Trần Thị Tấn với lý do “nhà họ cũng nghèo như nhà mình”.
Ngặt nỗi ăn ở với nhau suốt ba năm mà vợ ông Sáu Lầu vẫn không có thai khiến mẹ chồng phật ý, khuyên hai người nên ly dị để ông kiếm vợ khác, sinh con trai nối dõi. Không dám cãi lời má nhưng cũng không đành bỏ vợ, ông Sáu Lầu lại một lần nữa đối diện với nỗi đau xa cách người thương. Ngày chia tay, bà ôm trong người một gói quần áo cũ, đầu đội chiếc khăn rằn của ông rồi bước cao bước thấp đi về nơi vô định.
Ở lại, ông Sáu Lầu ngày ngày xách đờn ra phía bìa ruộng, nơi vợ chồng biệt ly lần đầu để đàn những bản mà vợ ông rất thích. Một đêm trung thu năm 1919, ông trằn trọc không ngủ được với bao nỗi ngổn ngang. Tiếng trống sang canh vọng lại từ ngôi chùa Vĩnh Phước An ở đầu xóm càng khiến ông thấy đau lòng. Bởi sang canh rồi lại sang canh, lại hết một đêm dài không ngủ. Mình thì chưa ra trận mà vợ đã thành người vọng phu.
Và thế là: Từ là từ phu tướng. Bảo kiếm sắc phán lên đàng. Vào ra luống trông tin nhạn. Năm canh mơ màng... Ông lẩm nhẩm những đoạn lời đầu tiên rồi tìm chữ nhạc ghép vào. Trải qua bao nhiêu đêm viết đi viết lại, Dạ cổ hoài lang ra đời. Mượn tiếng trống đêm (dạ cổ) để làm nhịp cầu chở những nhớ thương, mong đợi của người thiếu phụ vọng phu (hoài lang).
Bản nhạc được viết ra tự đáy lòng đã góp phần trùng phùng đôi vợ chồng son sắt. Những buổi nói dối mẹ đi hát đám nhạc lễ, ông Sáu Lầu đã lén gặp lại người vợ hiền. Rồi vợ ông có thai nên được mẹ chồng rước lại về làm dâu. Người con trai đầu lòng ấy chính là ông Cao Kiến Thiết - sau này là cán bộ cao cấp của Đại sứ quán Việt Nam tại Mông Cổ.
Ông Cao Kiến Thiết kể lại có lần nghe cha mình tâm sự với bạn bè rằng: “Lúc ấy tôi nghĩ giờ này vợ mình đang ở đâu? Chắc chắn là vợ mình thương mình nhiều hơn mình thương vợ mình. Số phận vợ mình như nàng Tô Huệ, vì quá thương chồng mà dệt bức cẩm hồi dâng lên vua. Hay như nàng Tô Thị chờ chồng đến hóa đá! Và tôi viết bản Hoài lang”.
HOÀNG OANH

ĐÂY LÀ WEBSIDE VỀ DẠ CỔ HOÀI LANG MỜI CÁC BẠN GHÉ THĂM http://www.dacohoailang.com
VIDEO http://www.youtube.com/watch?v=fLvs9dR4ULk
http://www.youtube.com/watch?v=OPq98_KBbk8&feature=fvwrel