Thứ Năm, 24 tháng 5, 2012

GẠO TÁM XOAN - HẢI HẬU - NAM ĐỊNH


Em như hạt gạo Tám Xoan
Thổi nồi đồng điếu, lại chan nước cà
Tám Xoan thơm dịu các nhà
Hạt gạo trong trắng, đẫy đà lại thon
Tám Xoan ăn với chả chim
Chồng đẹp, vợ đẹp, những nhìn mà no…

Dân gian truyền đời về giá trị của gạo Tám Xoan như là đầu bảng của thú ăn, của hạnh phúc đôi lứa, vợ chồng, con cái và của cư dân châu thổ Bắc Bộ nói chung.

Ở nước ta nhiều nơi có gạo tám, nhưng phải là Tám Xoan, là tám cây cao, hạt thon, một năm chỉ cấy trồng được 1 vụ, tám ấp bẹ của vùng Hải Hậu - Nam Định nổi tiếng ngon. Từ xa xưa gạo tám ở đây đã được chọn để tiến vua. Ngày nay thường được dùng trong các tiệc chiêu đãi lớn của Nhà nước khi tiếp những vị nguyên thủ quốc gia và là một mặt hàng đặc sản xuất khẩu quan trọng.

Cũng ở Hải Hậu, nhưng đâu phải xã nào, huyện nào cũng trồng được Tám Xoan. Ở Hải Hậu, gạo Tám Xoan chỉ trồng được ở vùng đất "Cửu An, Nhất Phúc" (tên gọi của 9 thôn có chữ đầu là An và thôn Phúc Khải) của vùng ven sông Ninh và sông Kim Giang. Tám Xoan là giống lúa thích hợp với đất thịt nặng, thịt trung bình, thịt nhẹ, nhưng tầng canh tác phải sâu, là đất phù sa trẻ ít chua, ảnh hưởng mặn tiềm tàng ở tầng dưới. Nếu không đáp ứng được những yêu cầu ấy các chân ruộng vẫn trồng được lúa tám nhưng không chỉ năng xuất thấp mà mùi thơm của nó cũng giảm.

Cũng là tám cây cao, nhưng có tới 3 loại là: Tám Tiêu, Tám Ngỗng, nhưng phải là Tám Xoan. Tám Xoan là thứ gạo trắng trong, thơm ngon tinh khiết, là sự gắn kết tuyệt vời của thiên nhiên và con người.
Gạo Tám Xoan giã cối đá, sàng nhặt không còn một hạt lép, vo và nấu bằng nước mưa thiên tạo, nấu bằng củi lõi ngô (Bắp), đốt ủ bằng rơm, trấu thì thích hợp khi ăn vào mùa lạnh.

Gạo Tám Xoan không giã bằng cối đá, thổi nấu bằng niêu đất, đun nấu bằng thứ rơm rạ, tre củi thôn quê, chín nức nở mới thơm ngon, dẻo quánh, càng nhai càng thấy thấm đượm ngọt ngào thì lại thích hợp khi ăn vào những ngày nóng nực.

Đa phần người Hà Thành xưa và nay đều biết đến gạo Tám Xoan nổi tếng với những đặc trưng như:

- Tám Xoan hạt nhỏ, thon dài, trắng xanh, thơm ngon tới tinh khiết, thổi mau chín.

- Hương vị thơm rất tự nhiên đặc trưng.

- Cơm được nấu từ gạo Tám Xoan thì hạt dẻo mềm nhưng rất săn chắc.

- Ăn mau tiêu và hàm lượng chất bổ cao hơn hẳn các loại gạo khác rất nhiều.

- Khi cơm để nguội thì vẫn giữ được độ dẻo, độ ngon và hương thơm đặc trưng như lúc cơm nóng.

 

Thưởng thức được gạo Tám Xoan cũng phải có một nghệ thuật ẩm thực từ khâu chế biến tới khi ăn thì mới thấy hết được cái ngon, cái ngọt, cái bùi, cái đậm đà của hạt gạo.

- Nấu Tám Xoan muốn ngon phải nấu bằng niêu đất hay nồi gang đun lửa rơm, tre củi thôn quê.

- Cơm Tám Xoan nếu ăn cùng thức ăn xào hay chan canh sẽ mất hết vị ngon, độ dẻo của gạo.

- Thưởng thức cơm Tám Xoan thì phải đi kèm với các món đặc trưng như giò lụa, chả quế, chả chim…

- Ăn cơm Tám Xoan kèm với cá bống, cá quả kho khô, cá rô rán giòn hoặc tôm, thịt rim, rưới thêm ít nước mắm nhĩ, rắc chút hạt tiêu,… thì sẽ ngon ngọt, cay nồng, thơm phức, quyến rũ.

Bát cơm tám thơm ăn cùng con cá đồng kho, mùi thơm và cái săn chắc, dẻo dai của gạo, vị ngọt của cá, mùi cay nồng của hạt tiêu…, tất cả hoà quyện vào nhau ấm áp tình quê đã khắc sâu nỗi nhớ, nỗi mong của những ai xa xứ và những ai đã từng được thưởng thức cơm Tám Xoan.
(Nguồn: Gaongon247.vn)

Tỉ lệ tiêu chuẩn gạo - nước
 
Tỉ lệ tiêu chuẩn gạo - nước
STT
Cơm ráo
Tiêu chuẩn
Cơm ướt
01
1 gạo : 1,15 nước
1 gạo : 1,20 nước
1 gạo : 1,25 nước
02
1 gạo : 1,15 nước
1 gạo : 1,25 nước
1 gạo : 1,30 nước
03
1 gạo : 1,25 nước
1 gạo : 1,30 nước
1 gạo : 1,40 nước
04
1 gạo : 1,30 nước
1 gạo : 1,35 nước
1 gạo : 1,45 nước
05
1 gạo : 1,15 nước
1 gạo : 1,25 nước
1 gạo : 1,35 nước

TRÀ TRỊ BỆNH TIỂU ĐƯỜNG




Nụ vối Hải Hậu Nam Định

 
Mẹ lên thành phố với con
Nhớ hoài cây vối vẫn còn dưới quê
Một năm may có dịp về
Mẹ ngồi bên gốc ủ ê nổi buồn
Hắt hiu run rẩy cánh chuồn
Mây trời teo tóp mặt khuôn quê nhà
Quán hàng nước đầy Coca
Mẹ tôi ủ lá vối già làm vui
Thương cây gốc đã sần sùi
Ra đi Mẹ cứ ngậm ngùi vấn vương.
…Mẹ ơi!
Quê ta đêm nay có nặng hạt mưa giông
Ấm vối đặc chắc vẫn nồng trong giỏ
Tháng năm rồi vối trong vườn kết nụ
Cô láng giềng còn hái giúp mẹ không?…
(Nước vối quê hương – Nguyễn Trọng Định)


Nụ vối bịch 200g
Trình bày (đóng gói):
200 gam Nụ vối Hải Hậu Nam Định loại ngon đóng trong bịch PE;
Đóng 50 bịch trong 1 thùng catton; Kích thước thùng 40,5cm x33,5cm x24,5cm
Công dụng
Nụ Vối - Giải Khát Và Chữa Bệnh
Cây vối, một loại cây quen thuộc của làng quê ở các tỉnh vùng đồng bằng Bắc Bộ. Từ lâu đời nhân dân ta đã biết sử dụng lá vối hay nụ vối với cách chế biến đơn giản tạo thành loại trà nấu hay hãm lấy nước uống thường ngày. Lá vối cũng có thể dùng tươi hay phơi khô dùng dần. Đặc biệt nó lại giàu dược tính nên được dùng làm thuốc chữa trị nhiều bệnh chứng rất hiệu quả.
Nụ vối được sử dụng có hai loại, một loại lá nhỏ hơn bàn tay, màu vàng xanh gọi là vối kê hay vối nếp; còn loại lá to hơn bàn tay, hình thoi, màu xanh thẫm gọi là vối tẻ. Hoa thành chùm tới hàng trăm nụ đan cài vào nhau và nở vào xuân, quả vối chín có màu đỏ thẫm giống quả bồ quân, ăn hơi chát và vị hơi đắng.
Các kết quả nghiên cứu về vối cho thấy trong lá và nụ vối chứa tanin, khoáng chất và vitamin... khoảng 4% tinh dầu với mùi thơm dễ chịu. Đặc biệt chứa một số chất kháng sinh có khả năng diệt được nhiều loại vi khuẩn gây bệnh như Streptococcus, Staphylococcus, vi khuẩn bạch hầu, phế cầu, Salmonella, Bacillus subtilis,chính vậy mà lá vối tươi hay khô sắc đặc được coi như một loại thuốc sát khuẩn dùng trị liệu các bệnh ngoài da như ghẻ lở, mụn nhọt hoặc lấy lá vối tươi nấu lấy nước đặc để gội đầu chữa chốc lở rất hiệu nghiệm.
Gần đây người ta còn phát hiện trong nụ vối chứa một hàm lượng polyphenol cao (tương đương 128mg catechin/gram trọng lượng khô) và hoạt chất ức chế men alpha-glucosidase nên có thể hỗ trợ phòng và điều trị chứng tiểu đường. Các kết quả được tiến hành trong phòng thí nghiệm cũng cho thấy nụ vối có khả năng triệt tiêu các gốc tự do, chống ô xy hóa mạnh. Khả năng chống ô xy hóa (antioxydants) của nụ vối đã làm giảm sự hình thành đục thủy tinh thể, bảo vệ sự tổn thương tế bào bê-ta tuyến tụy, phục hồi các men chống ô xy hóa trong cơ thể.
Theo các kết quả nghiên cứu trên động vật, các nhà khoa học của Viện dinh dưỡng quốc gia và Đại học phụ nữ Nhật Bản đã rút ra kết luận: Nụ vối có khả năng hạn chế tăng đường huyết sau ăn và hỗ trợ ổn định đường huyết, hỗ trợ giảm lipid máu, phòng ngừa biến chứng của đái tháo đường (tiểu đường) khi điều trị lâu dài mà được sử dụng nước nụ vối uống thường xuyên.
Theo Đông y lá vối có tác dụng kiện tỳ, giúp ăn ngon, tiêu hóa tốt. Chất đắng có trong vối sẽ kích thích tiết nhiều dịch tiêu hóa; mặt khác chất tanin lại bảo vệ niêm mạc ruột, còn chất tinh dầu có tính kháng khuẩn cao nhưng không làm tổn hại đến những loại vi khuẩn có ích cư trú tại ống tiêu hóa. Kinh nghiệm dân gian cho biết lá vối tươi có công hiệu trị bệnh cao hơn hẳn lá vối đã ủ. Do vậy lá vối nấu nước uống có khả năng trợ giúp chữa trị các bệnh chứng hoặc các tổn thương như bỏng, viêm gan, vàng da, viêm da lở ngứa. Đông y còn dùng vỏ cây vối làm thuốc gọi là hậu phác, được sử dụng để trị đau bụng, đầy trướng ăn không tiêu, nôn mửa...
Song nước vối còn là loại có công hiệu giải khát trong những ngày hè nóng nực, làm mát và lợi tiểu nên còn có công năng đào thải các độc chất trong cơ thể qua đường niệu. Các nghiên cứu còn cho thấy nếu chỉ uống nước lọc hoặc nước trắng thì sau 30 - 40 phút là cơ thể đào thải hết, nhưng nếu uống nước lá vối hoặc nụ vối thì cũng trong thời gian ấy cơ thể chỉ thải loại 1/5 lượng nước đã uống, phần còn lại sẽ được đào thải từ từ sau đó.
Vài Phương Thuốc Trị Liệu Có Dùng Nụ Vối
Trị đau bụng đi ngoài: Lá vối 3 cái, vỏ ổi rộp 8g, núm quả chuối tiêu 10g. Cùng thái nhỏ phơi khô sắc với 400ml nước, còn 100ml chia 2 lần uống trong ngày, dùng liền 2 - 3 ngày.
Chữa đầy bụng, không tiêu: Vỏ thân cây vối 6 - 12g, sắc kỹ lấy nước đặc uống 2 lần trong ngày. Hoặc nụ vối 10 - 15g, sắc lấy nước đặc uống 3 lần trong ngày.
Chữa lở ngứa, chốc đầu: Lấy lá vối lượng vừa đủ nấu kỹ lấy nước để tắm, rửa nơi lở ngứa và gội đầu chữa chốc lở.
Giúp giảm mỡ máu: Nụ vối 15 - 20g, hãm lấy nước uống thay trà trong ngày hay nấu thành nước đặc chia 3 lần uống trong ngày. Cần uống thường xuyên mới hiệu nghiệm.
Hỗ trợ trị tiểu đường: Nụ vối 15 - 20g, sắc lấy nước chia 3 lần uống trong ngày hay hãm uống thay trà. Cần uống thường xuyên.
Theo Sức Khỏe & Đời Sống
Cách dùng
-Mở túi;
-Lấy khoảng 10 gam nụ vối cho vào ấm;
-Chế lượng nước sôi vừa đủ- khoảng 150 ml tùy theo sở trường đậm, nhạt;
-Hãm khoảng 5 phút ;
-Rót ra chén rồi uống.
-Chế nước sôi và hãm uống cả ngày.
 Nụ vối là thức uống truyền thống của nhân dân ta, nụ vối có tác dụng mát, tốt cho gan, trẻ em và người lớn, mọi người đều dùng được.


Thứ Sáu, 18 tháng 5, 2012

BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP


Bảo hiểm thất nghiệp có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009, người lao động và đơn vị sử dụng lao động bắt buộc phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội. Theo đó thời gian người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp, khi không có việc làm (nghỉ việc) sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp do quỹ bảo hiểm thất nghiệp chi trả. Thời gian làm việc trước ngày 01/01/2009 khi nghỉ việc vẫn được hưởng trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc làm do doanh nghiệp chi trả.
         Mức đóng bảo hiểm thất nghiệp, người lao động đóng 1% mức tiền lương, tiền công hàng tháng; người sử dụng lao động đóng 1% quỹ tiền lương, tiền công và Nhà nước hỗ trợ 1% quỹ tiền lương, tiền công của những người tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

Đối tượng tham gia, mức đóng, phương thức đóng và các đối tượng được hỗ trợ tham gia BHYT


Cơ sở pháp lý: Luật BHYT; Nghị định 62/2009/NĐ-CP; Thông tư 09/2009/TTLT-BYT-BTC

1. Đối tượng tham gia BHYT?
Đối tượng tham gia BHYT được quy định gồm 25 nhóm:
1. Người lao động, người quản lý doanh nghiệp, cán bộ, công chức, viên chức bao gồm:
a) Người lao động, kể cả lao động là người nước ngoài, làm việc tại các cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp sau:
- Doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư;
- Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành lập và hoạt động theo Luật hợp tác xã;
- Cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị-xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội- nghề nghiệp và tổ chức xã hội khác;
- Cơ quan, tổ chức nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế tại Việt Nam, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên tham gia có quy định khác;
- Các tổ chức khác có sử dụng lao động được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật.
b) Cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức bao gồm:
- Cán bộ được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương và địa phương, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước;
- Công chức được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; công chức không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp; công nhân quốc phòng làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng; cán bộ, công chức không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc lực lượng Công an nhân dân và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước;
- Cán bộ xã, phường, thị trấn, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị-xã hội; công chức cấp xã được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc ủy ban nhân dân cấp xã.
c) Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.

NGHỊ ĐỊNH Hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc




CHÍNH PHỦ                                     CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM                                                                            Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


 
Số: 152/2006/NĐ-CP                                      Hà Nội, ngày 22 tháng 12  năm 2006



NGHỊ  ĐỊNH
Hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội
về bảo hiểm xã hội bắt buộc


 


CHÍNH PHỦ



Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Bảo hiểm xã hội ngày 29 tháng 6 năm 2006;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội,

NGHỊ ĐỊNH :
Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG



Điều 1. Nghị định này hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động Việt Nam làm việc theo hợp đồng lao động.

Điều 2. Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc quy định tại Nghị định này bao gồm:

1. Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.

2. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên theo quy định của pháp luật về lao động kể cả cán bộ quản lý, người lao động làm việc trong hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã hưởng tiền công theo hợp đồng lao động từ đủ 3 tháng trở lên.

3. Người lao động là công nhân quốc phòng, công nhân công an làm việc trong các doanh nghiệp thuộc lực lượng vũ trang.

4. Người lao động đã tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mà chưa nhận bảo hiểm xã hội một lần trước khi đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo quy định của pháp luật về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, bao gồm các loại hợp đồng sau đây:

a) Hợp đồng với tổ chức sự nghiệp, doanh nghiệp được phép hoạt động dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài, doanh nghiệp đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài dưới hình thức thực tập, nâng cao tay nghề và doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài có đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài;

b) Hợp đồng với doanh nghiệp Việt Nam trúng thầu, nhận thầu, công trình ở nước ngoài;

c) Hợp đồng cá nhân.

Các đối tượng quy định tại Điều này gọi chung là người lao động.

NGHỊ ĐỊNH QUẢN LÝ, CUNG CẤP, SỬ DỤNG DỊCH VỤ INTERNET VÀ NỘI DUNG THÔNG TIN TRÊN MẠNG



(Dự thảo 2, ngày 21/10/2011)
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Viễn thông ngày 23 tháng 11 năm 2009;
Căn cứ Luật Báo chí ngày 28 tháng 12 năm 1989, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí ngày 12 tháng 6 năm 1999;
Căn cứ Nghị định số 25/2011/NĐ-CP ngày 06/4/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Viễn thông;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông,
NGHỊ ĐỊNH:
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Nghị định này quy định chi tiết đối với việc quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và nội dung thông tin trên mạng, bao gồm dịch vụ Internet, tài nguyên Internet, dịch vụ trò chơi trực tuyến, dịch vụ mạng xã hội trực tuyến, trang thông tin điện tử, an toàn thông tin, an ninh thông tin; quyền của các tổ chức, cá nhân tham gia việc quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và nội dung thông tin trên mạng.